Thanh Tuyết khắc khoải hát chèo cổ

Ngô Thị Thanh Tuyết, một nghệ sĩ trẻ đầy triển vọng của Đoàn Chèo Tổng cục Hậu cần, nay là Nhà hát Chèo Quân đội vừa ra mắt album DVD Khắc khoải năm canh.

Album gồm 7 làn điệu chèo cổ tiêu biểu: Con nhện giăng mùng; Quân tử vu dịch; Hát ru – Đào Liễu; Tình thư hạ vị, Ngâm bốn mùa, luyện năm cung; Đường trường tiếng đàn; Tò vò.

Đặc biệt trong album của nghệ sĩ có sự góp mặt của NSƯT Văn Chương, người được mệnh danh là “hoàng tử” của sân khấu chèo ( hát với Thanh Tuyết trong 2 bài: Quân tử vu dịch và Tình thư hạ vị) cùng nhiều nhạc công tên tuổi và tâm huyết trong làng chèo như: NSƯT Văn Thắng, Quang Hoàn, Tuấn Dũng…

Nghệ sĩ Thanh Tuyết 

Ngoài ra, DVD còn được dàn dựng bởi ekip làm phim uy tín: đạo diễn Sỹ Khoa, quay phim Hoàng Trọng, họa sĩ Ngọc Anh, nhạc sĩ Kiên Quyết. Đặc biệt, đạo diễn Sỹ Khoa đã tạo dựng được những cảnh quay rất có nghề, nhiều dụng công nghệ thuật, khơi gợi và phản ánh được chiều sâu nội dung của các tác phẩm âm nhạc chèo cổ.

Có thể nói DVD Khắc khoải năm canh là một chương trình nghệ thuật rất thành công của nghệ sĩ Thanh Tuyết, một đóng góp rất đáng quý vào sự nghiệp tôn vinh các giá trị nghệ thuật dân gian của dân tộc.

Xuất thân là một cô gái nông thôn, sinh ra và lớn lên ở ngoại thành Hải Phòng, từ nhỏ Thanh Tuyết đã mang trong mình tình yêu và niềm mơ ước được trở thành nghệ sĩ chèo chuyên nghiệp. Năm 2000, Thanh Tuyết trúng tuyển vào lớp diễn viên chèo tại trường ĐH Sân khấu Điện ảnh và may mắn được học tập dưới sự dìu dắt, hướng dẫn trực tiếp của cô giáo chủ nhiệm, NSƯT Đoàn Bình, một nghệ sĩ hát chèo nổi tiếng. Tốt nghiệp và được tuyển thẳng vào Nhà hát Chèo Quân đội Thanh Tuyết đã không ngừng khổ luyện, kế thừa và phát huy những kỹ thuật hát chèo được truyền thụ để có được giọng hát chèo ngọt ngào, đằm thắm, lôi cuốn lòng người.

 Lê Mạnh

Tìm bài hát này:

  • Jmp3 hoang phin hat cheo co
  • Nge si minh vuong
  • vở chèo cổ tướng công phạm ngũ lão

Cặp đôi nổi tiếng của nghệ thuật Bài chòi

Để có được những thành công trong hành trình nghệ thuật, hai vợ chồng nghệ sĩ đất võ đã phải hy sinh về vật chất, cố gắng giữ nghề trong khi nghệ thuật truyền thống không được coi trọng. Dòng chảy cuộc đời hai vợ chồng vốn không lung linh như ánh đèn sân khấu. 

Từ cách nói chuyện, lý giải vấn đề, nghệ sĩ nhân dân (NSND) Hoài Huệ luôn có chất giọng dõng dạc, khỏe khoắn và lúc nào cũng đầy ý tưởng cho nghệ thuật Bài chòi. Làm sao để tiếp tục ăn sâu bám rễ trong lòng công chúng, nhất là khi Bài chòi vừa được UNESCO ghi danh, trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại? Vợ chồng Hoài Huệ rất trăn trở, bởi đó là vinh dự, nhưng cũng là áp lực đối với những người nghệ sĩ yêu Bài chòi.

Cặp đôi nổi tiếng của nghệ thuật Bài chòi
Vợ chồng nghệ sĩ nhiều lần được tôn vinh vì những cống hiến cho Bài chòi

May mắn được thừa hưởng năng khiếu từ gia đình truyền cho, cả hai vợ chồng nghệ sĩ Hoài Huệ, Hồ Thu đều cố gắng để vai diễn thành công nhất. Ngay cả khi ở thời điểm các môn nghệ thuật truyền thống không được coi trọng, trong đó có Bài chòi,  thì họ vẫn vững tâm giữ lửa nghề.

Nghe Hoài Huệ giới thiệu về những cán bộ tiền bối, càng thấy anh là người không chỉ tự hào mà vô cùng coi trọng truyền thống gia đình. “Cha tôi là NSƯT Nguyễn Hoài Ân, nổi tiếng với biệt danh Tám Kèn của Đoàn Dân ca liên khu V (tiền thân của Đoàn Ca kịch Bài chòi Bình Định), mẹ tôi là diễn viên chèo tuồng Thanh Hảo, quê gốc ở Thái Bình, con gái một ông bầu hát nổi tiếng. Còn chị gái tôi là NSND Thu Hiền, công tác ở Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam…Nhưng quan trọng hơn thế, tôi là người ham học hỏi, với tinh thần phát huy cao độ truyền thống ấy. Nếu có kiếp sau tôi vẫn nguyện làm nghệ thuật”.

Hoài Huệ là lớp diễn viên khóa I Trường Trung cấp Văn hóa nghệ thuật Nghĩa Bình 1978-1981 (Trường Trung cấp Văn hóa nghệ thuật Bình Định ngày nay) – thế hệ được đào tạo bài bản và chủ lực của Đoàn ca kịch Bài chòi Bình Định mấy chục năm qua. Còn vợ anh là NSND Hồ Thu, cũng sinh ra trong gia đình truyền thống nghệ thuật. Ông nội chị là nghệ sĩ Hồ Quý – trưởng một đoàn ca kịch từ những năm kháng chiến chống Mỹ. Bố chị là nghệ sĩ Thu An, nguyên Trưởng đoàn Ca kịch Bài chòi Bình Định.

Tiếp lời chồng, NSND Hồ Thu chia sẻ, từ nhỏ chị đã được nghe mẹ ru với những câu hát đằm thắm. Rồi lớn lên lại được theo bố đi diễn. “Tôi nghe rồi thấm, sau đó thì yêu. Năm bẩy tuổi tôi đã biết hát những câu đơn giản. Cha tôi phát hiện giọng hát của tôi có triển vọng và đào tạo tôi”, Hồ Thu kể.

Nghệ sĩ Hồ Thu còn chia sẻ thêm, là con nhà nòi, được học bài bản và quan trọng hơn những người thầy đầu tiên trong gia đình mấy đời làm nghệ thuật giúp anh chị định hướng rõ ràng sự nghiệp, để từ đó có thể thăng hoa.

Hồ Thu nhấn mạnh: “Anh Hoài Huệ và tôi lại được gặp và trở thành vợ chồng và có thể giúp đỡ nhau rất nhiều khi công tác cùng đoàn. Cái duyên khiến chúng tôi đến với nhau là năm 1978, cùng học ở Trường Trung cấp Văn hóa nghệ thuật Nghĩa Bình. Vì đoàn Ca kịch Bài chòi Bình Định thiếu diễn viên nên khi còn đi học, tôi và Hoài Huệ được chọn về bổ sung lực lượng. Công tác cùng đơn vị, đó là điều kiện để tương hỗ cho nhau”.

Nghệ thuật Bài chòi vừa mang tính trình diễn, vừa mang tính thực hành xã hội. Người xem cùng một lúc được thưởng ngoạn nhiều thể loại, nhiều thành phần nghệ thuật khác nhau như thơ, trò diễn, trích đoạn sân khấu, dân ca, chuyện kể và cả diễn tấu nhạc cụ… Cái hay riêng là ở chỗ kể chuyện nhưng không giống như lối kể chuyện thông thường mà có động tác, nhạc cụ phụ họa. Nên muốn hay và tạo ấn tượng thì người diễn viên phải có năng khiếu, sức khỏe. Hoài Huệ và Hồ Thu đáp ứng được những tiêu chuẩn khắt khe của nghề.

Để được như ngày hôm nay, với nhiều thành quả và vinh quang nếu không có sự bổ trợ giúp đỡ cho nhau, thì hai vợ chồng nghệ sĩ đã chẳng trở thành một “cặp đôi hoàn hảo” đến thế. Phải làm sao để diễn xuất ăn ý, phải bỏ qua “rào cản” vợ chồng để làm việc với tư cách là đồng nghiệp, chịu nghe nhau góp ý, sửa cho những “hạt sạn” để vai diễn được tròn trịa. Suốt nhiều năm, hai người là cặp đôi diễn viên nhập vai chính. Nếu Hoài Huệ là Chế Mân thì Hồ Thu sẽ là Huyền Trân công chúa; nếu Hoài Huệ là chàng hoàng tử Kha Láp đa tình thì Hồ Thu sẽ là nàng công chúa Tô Lan xinh đẹp; nếu Hoài Huệ trong vai Quang Trung thì Hồ Thu sẽ là nàng Ngọc Hân…

Với Hoài Huệ, anh đã để lại ấn tượng với nhiều vai nổi tiếng như vai Chế Mân trong “Huyền Trân công chúa”, vai Pơ-Rin trong vở “Chuyện tình nàng Si ta”,  vai Vạn Lịch trong “Đồng tiền Vạn Lịch”… Còn Hồ Thu sắm vai các nhân vật Xuân Nương trong vở “Lâm Sanh – Xuân Nương”, Thoại Khanh trong vở “Thoại Khanh Châu Tuấn”… Khi xem chị thể hiện vai thằng nhỏ trong vở “Đứa con tôi” tại Liên hoan Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc năm 2003, nhà viết kịch Lê Duy Hạnh phải thốt lên: “Hồ Thu là đào thương (bi) mà không ngờ vào vai này lại tốt, lại đột phá đến thế”. Năm đó, vai diễn này mang về cho chị tấm Huy chương vàng.

3Suốt gần 40 năm làm nghề, đảm nhận hơn 90 vai chính, vợ chồng NSND Hoài Huệ – NSND Hồ Thu đã trải qua nhiều thăng trầm, biến cố của cuộc đời. Nhìn vào cách họ diễn trên sân khấu, giới chuyên môn nhận ra rằng, họ luôn biết tiết chế sự dồn nén để tạo bùng vỡ về cảm xúc những lúc cao trào. Bởi vậy, từ vai diễn cổ điển, dã sử đến hiện đại, đề tài dân tộc hay chuyển thể từ nước ngoài, cuộc hóa thân nào cũng được thể hiện sống động.

Để có được những thành công trong hành trình nghệ thuật, hai vợ chồng nghệ sĩ đất võ đã phải hy sinh về vật chất, cố gắng giữ nghề trong khi nghệ thuật truyền thống không được coi trọng. Dòng chảy cuộc đời hai vợ chồng vốn không lung linh như ánh đèn sân khấu.

Hoài Huệ nói: “Năm 1989 đến năm 1996 là quãng thời gian khó khăn khủng khiếp mà chúng tôi đã phải cố gắng rất nhiều. Kinh phí đầu tư giảm, nghệ sĩ chỉ được hỗ trợ 20% lương, còn lại phải tự bươn chải. Ngay cả bây giờ đây, đời sống của nghệ sĩ Bài chòi cũng hết sức khó khăn, nhiều người phải kết hợp làm việc khác nữa để có thêm thu nhập. Đến đây tôi cũng phải khẳng định, cái gien gia đình nó mạnh lắm. Nó xóa nhòa mọi ranh giới vật chất, tạo ra sự đồng cảm và tạo nên động lực để khắc phục”.

Từ năm 1993, NSND Hoài Huệ là Phó trưởng đoàn Ca kịch Bài chòi Bình Định, từ năm 2010, anh đảm nhận cương vị làm Trưởng đoàn, từ đó áp lực cũng tăng lên vì phải lo đối ngoại, chăm lo đời sống cho anh em. Còn chị Hồ Thu hiện đang dạy năm lớp dân ca tại Bình Định, cố gắng truyền cảm hứng, “kéo” giới trẻ trở lại với nghệ thuật truyền thống, đồng thời tiếp tục để Bài chòi là món ăn tinh thần trong đời sống người dân Trung bộ. Song theo anh nếu không có sự giúp sức, chung tay chia sẻ thì công sức của những người nghệ sĩ như anh cũng chỉ như muối bỏ biển.

Ngô Thục Miên
Theo hoibaonganhang.vn

Tìm bài hát này:

  • xem nge thuat hat bai choi cua dan toc

Nghệ sĩ cải lương Tài Linh: Nghệ sĩ duy nhất không vướng vòng tình ái lăng nhăng

Khác với những nghệ sĩ khác, càng nổi tiếng, Tài Linh càng hạnh phúc trong hôn nhân nhờ lối sống giản dị và rạch ròi của bà.

“Nữ hoàng video” và cuộc dạo chơi “Mưa bụi”

Thập niên 90, Vũ Linh là kép nam chạy show lẫn quay video nhiều nhất. Còn phần đào nữ thì Tài Linh gần như ôm trọn thị phần này. Đến nay, số video bà quay lên đến hàng ngàn và gần như không nhớ nổi. Lúc thì là những cuộn video tân cổ giao duyên, khi thì là những vở cải lương tâm lí xã hội và chuộng nhất là những vở tuồng cổ theo tích Tàu như: Thần nữ dâng ngũ linh kì, Tình nước duyên trăng, Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, Tam đả Châu Ngọc Long, Chiêu Quân cống hồ…

Sẽ là thiếu sót nếu như không nhắc đến “Mưa bụi”, một cuộc dạo chơi tình cờ của bà ở dòng nhạc trữ tình. Chia sẻ về cơ duyên đến với âm nhạc, Tài Linh nói: “Những năm 1990 các video cải lương rất thịnh hành và trong quá trình quay các tuồng cải lương cho đạo diễn Hữu Minh thì anh ấy nhận thấy tôi có khả năng ca nhạc nên mời tôi làm CD ca nhạc. CD đó tôi hát với ca sĩ Đình Văn, có bài Ngẫu hứng lý qua cầu rất được khán giả yêu thích, từ đó khán giả cũng chấp nhận mình hát tân nhạc. Sau đó thì đến băng Mưa bụi mà mình cũng không ngờ lại thành công đến vậy”.

 

 

Chỉ đơn thuần khi nghệ sĩ Tài Linh ghé qua studio Kim Lợi của nhạc sĩ Hữu Minh, hát thử một đoạn tân nhạc, chất giọng của bà đã làm cho ông chủ Kim Lợi chú ý bởi anh đang loay hoay tìm ra một hướng đi mới cho âm nhạc thời bấy giờ. Sau lần hát thử này, Hữu Minh quyết định mời Tài Linh thu âm một số ca khúc do anh viết lời, được nhạc sĩ Vinh Sử biên tập lại.

Khi đó Tài Linh cũng khá băn khoăn và cân nhắc. Bởi bà là một nghệ sĩ cải lương và hoàn toàn không có một chút kỹ thuật nhạc nhẹ nào. Tài Linh gần như phải học lại từ đầu với những nhịp phách, tiết tấu của nhạc nhẹ kết hợp với cách luyến láy của cổ nhạc. Tài Linh đã cùng Kim Lợi mày mò, chỉnh sửa để có thể cho ra mắt được những sản phẩm mang đậm âm hưởng dân ca trên nền tân nhạc.

 

 

Để nói về thành công lẫy lừng của thời kỳ Mưa bụi một thời, Tài Linh khiêm tốn cho rằng: “Tôi vẫn xác định cải lương mới là sở trường của mình, còn ca nhạc chỉ là một sự dạo chơi đầy ngẫu hứng mà thôi”.

Thành công từ “Mưa bụi” đã giúp ích rất nhiều cho sự nghiệp ca hát của Tài Linh. Tài Linh đã ghi những dấu ấn sâu đậm, đã làm nên một dòng nhạc mới, đã khiến cho nền âm nhạc Việt Nam thời bấy giờ chuyển mình và có những đột phá tích cực.

Không có gì là quá khi nói rằng, Tài Linh chính là một nhân tố không thể thiếu với “Mưa bụi” mà nếu không có bà, dòng nhạc này đã không thể phát triển, âm nhạc trong nước đã không thể có những chuyển biến để làm nên một thời đại âm nhạc mới như những gì đã đạt được vào những năm của thập kỷ 1990.

Càng nổi tiếng, hạnh phúc gia đình càng vững chắc

Tài Linh là một nghệ sĩ cá biệt trong giới nghệ sĩ cải lương. Từ khi xuất hiện lần đầu tiên cho đến khi lui về ở ẩn, bà không vướng vào bất cứ scandal lớn nhỏ nào như những nghệ sĩ cải lương khác thường gặp. Giữa nghề nghiệp và cuộc sống đời thường Tài Linh rất rạch ròi, bà có nét sinh hoạt giản dị, nề nếp, thể hiện rõ tư cách của một nghệ sĩ trí thức. Tài Linh rất được mọi người thương mến, nể trọng.

Khác với những nghệ sĩ tên tuổi khác, dù nổi tiếng giàu có nhưng tình duyên lận đận, hạnh phúc gia đình không bền lâu. Tài Linh là nữ nghệ sĩ duy nhất của cải lương không bị ảnh hưởng bởi chuyện tình ái lăng nhăng. Vị trí nghệ thuật càng cao thì nền tảng hạnh phúc gia đình của Tài Linh càng vững chắc. Phải nói rằng cuộc sống tình cảm riêng tư của giới nghệ sĩ nói chung, nghệ sĩ cải lương nói riêng thường gặp ít nhiều trắc trở, tai tiếng, dư luận xã hội có phần khắt khe, thiếu thiện cảm đối với giới nghệ sĩ. Riêng Tài Linh vẫn giữ cho mình được phong thái chững chạc, hiền lành, tài năng, chung thủy.

 

 

 

Tài Linh chia sẻ: “Tôi rất rạch ròi giữa sân khấu và cuộc đời. Trên sân khấu mình có thể là ông hoàng bà chúa nhưng khi trở về nhà cũng chỉ là người bình thường. Tôi là người đơn giản, không đòi hỏi gì cao, với tôi có nổi tiếng hay không cũng vậy thôi, chỉ cần sự bình yên cho gia đình là đủ. Khi không đi hát thì tôi vẫn là một người vợ, người mẹ, vẫn làm những công việc nội trợ chăm lo cho chồng con như bao phụ nữ khác. Tôi hài lòng với những gì mình có. Với nghề nghiệp thì khán giả vẫn còn thương. Đi hát với tôi không còn là nghề nữa mà là cái nghiệp rồi. Ngày nào “Tổ nghiệp” còn cho tôi sức khỏe thì tôi vẫn còn hát, cố gắng không phụ lòng khán giả. Về gia đình thì bao năm qua vẫn giữ được sự bình yên, là điểm tựa quan trọng cho sự nghiệp của tôi”.

NSƯT Vũ Linh rất mến phục tài năng và tư cách của bà, có lẽ vì vậy ngoài là đôi bạn diễn ăn khách, ăn ý, họ còn là đôi bạn tâm giao tri kỷ. Nếu nghệ sĩ trẻ nào khi thành danh đều có ý thức được như Tài Linh thì đó là đều đáng quý, đáng trân trọng. Vũ Linh tâm sự: “Nếu như gặp Tài Linh ngoài đời thường, bạn sẽ khó tin trước nét giản dị, đôi khi cục mịch của cô ấy, nhưng khi lên sân khấu lại vụt sáng đến lạ lùng. Tôi may mắn có người bạn diễn là Tài Linh để tạo dựng những mối lương duyên đẹp trên sân khấu”.

 

 

 

 

Nghệ sĩ Tài Linh đã qua Mỹ định cư từ năm 2004 theo diện đoàn tụ gia đình. Những năm đầu ở nơi đất khách quê người, bà kiếm sống bằng nghề làm móng ở Victor Ville. Thời gian này kéo dài đằng đẵng suốt ba năm trời ngập tràn trong nỗi nhớ quê hương da diết cùng với ánh đèn sân khấu. Dần dần sau đó, Tài Linh mới bắt đầu nhận show biểu diễn để làm nguôi ngoai đi nỗi nhớ nghề vẫn còn chan chứa trong bà.

“Cuối tuần tôi vẫn đi hát phục vụ bà con. Ở hải ngoại khán giả rất ủng hộ cải lương, ở đâu cũng là người Việt mình mà. Những người lớn tuổi nhớ quê hương nên rất nhớ cải lương, nhớ câu vọng cổ, những người trẻ tuổi thì luôn muốn tìm hiểu về nghệ thuật dân tộc.

Khi đi diễn tôi luôn cố gắng diễn trích đoạn cải lương, dù rằng nếu hát ca nhạc sẽ nhẹ cho mình hơn, để người Việt xa xứ mình đỡ nhớ quê, cũng mong muốn cho các em nhỏ sinh ra sau này mặc dù chưa có dịp về thăm quê hương cũng biết về truyền thống dân tộc. Tôi đều có làm lược truyện giới thiệu tóm tắt nội dung từng vở tuồng trước mỗi trích đoạn biểu diễn để các em ít nhiều cũng có thể hiểu được tuồng nói gì…”.

Hiện tại, con trai của bà đã trưởng thành và yên bề gia thất. Cuộc sống cũng ổn định hơn. Tài Linh vẫn tiếp tục theo nghề vì có khá nhiều lời mời ở các sân khấu lớn. Dù ở hải ngoại xa xôi, cái tâm của bà vẫn hướng về nghệ thuật cải lương và quyết mang lời ca tiếng hát tô điểm cho đời đến khi trút hơi tàn.

Nguồn: Ngôi sao Vn

Tìm bài hát này:

  • hát quan họ con nhện nhăng mùng

Chàng trai Hà thành mê hát chèo

Nghệ thuật chèo đã thấm vào máu tôi từ khi còn rất nhỏ, nó như một mối nhân duyên trời định. Nhiều khi tôi nghĩ, có lẽ tôi sinh ra là để hát chèo và không gì có thể thay thế được chèo trong trái tim mình. Vì lẽ đó, tôi đã từ chối con đường sự nghiệp mà gia đình đã lựa chọn để quyết tâm theo đuổi chèo đến cùng…”. Đó là chia sẻ của nghệ sĩ Chu Cường – chàng trai trẻ thuộc thế hệ 8x gốc Hà Thành khi nói về nỗi niềm đam mê nghệ thuật chèo.

Với mong muốn đưa nghệ thuật hát chèo đến gần hơn với công chúng, nghệ sỹ Chu Cường thường xuyên tham gia các chương trình biểu diễn ngoài trời, để quảng bá, giới thiệu nghệ thuật truyền thống độc đáo của Việt Nam đến du khách trong và ngoài nước.

Đưa nghệ thuật chèo đến gần công chúng

Trong tiếng trống rộn ràng, tiếng đàn réo rắt, tiếng hát chèo của nghệ sỹ Chu Cường vang lên ở sân khấu nhà bát giác (còn gọi là nhà Kèn, ở phía sau tượng đài vua Lý Thái Tổ bên bờ hồ Hoàn Kiếm). Khi thì anh hát những làn điệu chèo cổ như “Đào Liễu”, “Duyên phận phải chiều”, khi anh lại biểu diễn những làn điệu chèo cổ những được đặt lời mới như “Quê hương ơn Bác” theo điệu đường trường thu không hay bài “Bến sông xưa” theo điệu sa lệch chênh, rồi “Tình xa gửi ánh trăng gần” theo điệu đường trường bắn thước… Những tiết mục biểu diễn của anh đã thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến xem. Du khách người Việt thì yên lặng lắng nghe và cổ vũ, khách nước ngoài thì thích thú nghe hát, vừa tò mò với những nhạc cụ mà các nghệ sỹ sử dụng.

 

Nghệ sĩ Chu Cường ngoài đời

Nghệ sỹ Chu Cường cho biết, từ nhiều năm nay, đều đặn vào thứ 3, thứ 5 hàng tuần, anh cùng các nghệ sỹ nổi tiếng như NSND Hoàng Anh Tú, NSND Thế Dân, NSND Thanh Hương và một số anh em nghệ sỹ trẻ của Hà Nội, thường xuyên có mặt trong chương trình biểu diễn tại sân khấu nhà Bát Giác, giới thiệu bảo tồn “Cây đàn bầu Việt Nam và nhạc cụ dân tộc truyền thống với các làn điệu dân ca”. Chương trình do Sở Văn hóa – Thể thao Hà Nội tổ chức, nhằm giới thiệu cây đàn bầu, nhạc cụ truyền thống của Việt Nam và một số loại hình nghệ thuật truyền thống cho khách du lịch và nhân dân xung quanh khu vực Bờ Hồ. Chương trình biểu diễn đã trở thành điểm đến quen thuộc, thu hút đông đảo khán giả đến xem.

“Nhiều người dân quanh khu phố cổ rất hay ra nghe tôi và các nghệ sỹ biểu diễn. Có người nghe nhiều thành “nghiện”, thế nên có những lần tôi đi công tác xa, phải tạm vắng mặt, đến khi đi diễn trở lại, có khán giả lên tận sân khấu đề nghị tôi hát lại mấy bài hát mà họ thích nghe. Có người nghe tôi hát xong thích quá, đến gặp và đề nghị tôi dạy hát chèo, có người thì hào hứng đến mức cởi phăng chiếc áo sơ mi đang mặc, rồi cứ nằng nặc đòi tặng và đề nghị tôi phải nhận…”, nghệ sỹ Chu Cường cho hay.

 

Đối với Nghệ sĩ Chu Cường, chèo như một mối nhân duyên trời định

Không chỉ khách trong nước, mà nhiều du khách nước ngoài khi nghe Chu Cường biểu diễn cũng rất thích thú. “Có người vừa nghe vừa nhún nhảy theo nhạc, có người thì đề nghị được dạy để hát thử vài câu, có du khách thì sau buổi diễn đến gặp tôi và bảo, không thể tin được trên thế giới lại có lối hát hay và lạ như thế…”, nghệ sỹ Chu Cường nhớ lại.

Ngoài những buổi biểu diễn ở nhà Bát Giác, Chu Cường còn tham gia cùng các nghệ sỹ khác biểu diễn các chương trình biểu diễn khác do Sở Văn hóa – Thể thao Hà Nội tổ chức như chương trình biểu diễn tại khu đền Bà Kiệu, hay đền Hương Tượng (64 Mã Mây)…

Sinh ra để hát chèo

Thấy Chu Cường thường tham gia các chương trình biểu diễn giới thiệu nghệ thuật truyền thống trên phố cổ, không ít người nhầm tưởng anh là nghệ sỹ thuộc “biên chế” của Sở Văn hóa – Thể thao Hà Nội. Nhưng ít ai biết, Chu Cường đang công tác tại Nhà hát Đài tiếng nói Việt Nam. Anh là một chàng trai Hà Nội, chỉ vì mê chèo nên đi học hát chèo, diễn chèo.

Nghệ sỹ Chu Cường kể, gia đình anh không có ai theo nghệ thuật. Anh biết nghệ thuật chèo vì khi còn nhỏ, ông và bố anh thường xuyên nghe đài, vì ngày đó trên đài hay có các chương trình dân ca và nhạc cổ truyền, chương trình sân khấu hay hát chèo và diễn chèo. Anh nghe nhiều và rất thích. Đặc biệt, anh rất mê các vai hài, vai hề chèo, bởi đó là những vai diễn mang lại tiếng cười cho khán giả, nhưng cũng phê phán những bất công của xã hội một cách thâm thúy, sâu cay. Có lẽ nghe nhiều nên “ngấm”, học hết cấp 3, Cường tự nộp hồ sơ thi vào đại học Sân khấu điện ảnh. Nghệ sỹ Chu Cường cho biết: “Khi biết tôi thi vào trường nghệ thuật, bố mẹ tôi phản đối quyết liệt, bởi ông bà muốn tôi thi vào trường quân đội, để sau ra làm quân nhân chuyên nghiệp. Nhưng vì mê hát quá, nên tôi nhất quyết không chịu, mất cả tháng thuyết phục, cuối cùng bố mẹ tôi đành thuận theo, chấp nhận cho tôi đi học”.

Để có thể thi được vào khoa Kịch hát dân tộc của trường Sân khấu điện ảnh, Cường đã học điệu chèo lới lơ, và bài xẩm xoan để “làm vốn” đi thi. Thật không ngờ, giọng hát của Cường đã chinh phục ngay các thầy cô, và Cường đỗ thủ khoa năm ấy.

Nghệ sỹ Chu Cường cho biết, mới đầu tưởng học hát dễ, nhưng càng học, càng thấy khó quá. Chẳng nhẽ lại chịu thua. Nhưng với bản tính bướng bỉnh, không chịu khuất phục trước khó khăn, nên càng khó, Cường càng quyết tâm học cho bằng được, và phải học thật tốt. Rồi càng học, càng thấy thích, thấy mê. Tốt nghiệp ra trường, giọng hát và diễn xuất của Cường đã “lọt mắt xanh” lãnh đạo Nhà hát Đài Tiếng nói Việt Nam, được lãnh đạo Nhà hát mời về công tác. Khi về công tác tại đây, anh được NSND Hồng Ngát, NSƯT Văn Chương và các anh chị trong đoàn chỉ bảo, giúp đỡ, Cường ngày càng tiến bộ trong nghệ thuật. Anh thường đóng các vai hề chèo trong các vở chèo nổi tiếng như “Xã trưởng mẹ đốp”, “Tuần Ty đào Huế”, vai phù thủy trong vở “Xúy Vân”…

Trong quá trình đi biểu diễn, Cường gặp NSƯT Đoàn Thanh Bình, một giọng ca nổi tiếng trong làng chèo Việt Nam, rất ấn tượng với giọng hát chèo của Chu Cường, lại tiếc vì thấy Cường chỉ hay diễn hề chèo, những vai hài thì lãng phí tài năng, nên NSƯT Đoàn Thanh Bình đã khuyên Cường nên trau dồi để nâng trình độ bản thân, có thể đảm nhiệm những vai kép chính, chứ không nên chỉ diễn mãi hề chèo. Rồi NSƯT Đoàn Thanh Bình dành thời gian dạy Cường thêm những kỹ thuật khó trong nghệ thuật hát chèo. Vốn có năng khiếu, lại sẵn lòng yêu nghề, nên Cường chỉ luyện tập trong một thời gian ngắn, và đã đảm nhận được nhiều vai chính trong các vở kịch như vai Trương Viên trong vở chèo cổ “Trương Viên”, vai Thiện Sỹ trong vở chèo “Quan âm Thị Kính”…

Khi được hỏi, điều gì khiến một chàng “công tử” Hà thành lại từ bỏ một tương lai ngời ngời mà bố mẹ đã chuẩn bị sẵn, để đến với nghệ thuật hát chèo, Chu Cường cho hay: “Tôi nghĩ mình sinh ra để hát chèo và diễn hài. Tôi yêu cuộc sống của người nghệ sỹ, bởi tôi được thể hiện đam mê của mình, và mang được niềm vui, tiếng cười vui vẻ đến cho mọi người, như vậy là tôi đã thấy vui vẻ, thỏa mãn rồi”, nghệ sỹ Chu Cường tâm sự.

Ngoài hát chèo, Chu Cường còn thường xuyên cộng tác làm diễn viên trong những bộ phim hài như “Làng ế vợ 2”, “Đại gia chân đất”… Hiện anh đang cộng tác cùng Hãng phim Bình Minh của đạo diễn Trần Bình Trọng, đảm nhiệm một vai trong seri phim sitcom hài “Râu ơi vểnh ra”, loạt phim sẽ ra mắt khán giả trong thời gian tới.

Nguồn: Theo Báo mới

 

Tìm bài hát này:

  • hat cheo bai chang oi chang ngu duoi goc xoan daao

NSUT Ngọc Bích đam mê với những làn điệu chèo cổ

Sáng 24/8, tại trường quay S9, NSUT Ngọc Bích, người chuyên hát những làn điệu chèo cổ, đã có buổi giao lưu với khán giả Hưng Yên trong chương trình Khách mời Văn nghệ sỹ do Đài PT&TH Hưng Yên tổ chức sản xuất.

 

NSUT Ngọc Bích cho biết năm nay chị 40 tuổi, cái tuổi đạt đến độ chín của tài năng. Giọng hát chèo ngọt ngào này đang thuộc biên chế của Nhà hát Chèo Việt Nam.

Sinh ra và lớn lên ở Bắc Giang, cái nôi của quan họ, con đường đến với nghệ thuật chèo của Ngọc Bích không hề dễ dàng. Ban đầu, chị không “thẩm thấu” được chèo. “Hồi bé tôi còn tưởng hát chèo là người ta trèo lên cây để hát”, NSUT Ngọc Bích vui vẻ kể lại.

Sau đó, được sự định hướng của người mẹ, chị dần đến với nghệ thuật chèo. Thuở ban đầu cũng đầy chông gai. “Nghệ sỹ Hồng Tính ở đoàn chèo Hà Bắc dạy tôi đến 5 lần 1 làn điệu mà tôi vẫn không hát được”, NSUT Ngọc Bích kể lại.

 

Nhưng rồi với sự tận tình dạy bảo của NSND Trần Bảng, qua sự khổ luyện của bản thân, những tinh hoa của nghệ thuật chèo đã ngấm dần, ngấm dần vào con người của NSUT Ngọc Bích. “Nghệ thuật chèo đến với tôi vừa là cái duyên, vừa là cái nghiệp”, chị tâm sự.

NSUT Ngọc Bích yêu thích các làn điệu chèo cổ vốn khó hát và có tính chuẩn mực cao. Chị thể hiện rất thành công các làn điệu như: Luyện năm cung, Đường trường vị thủy, Đào liễu, Con nhện giăng mùng, v.v…

Một đỉnh cao trong sự nghiệp của NSUT Ngọc Bích là khi chị đoạt giải A trong hội diễn tài năng sân khấu trẻ toàn quốc năm 2007 với vai đào Huế trong vở “Tuần ty – đào Huế”. “Đó là 1 vai nữ pha và phải thể hiện được cái ghen của người con gái Huế là ghen lặn vào trong, ghen nghiến răng”, NSUT Ngọc Bích chia sẻ.

 

 

Trong quá trình công tác, biểu diễn tại Nhà hát Chèo trung ương, có thời gian chị phải nghỉ tới 4 năm do nguyên nhân khách quan. Nhưng với niềm đam mê chèo đã ngấm vào máu, chị vẫn miệt mài luyện tập, tham gia biểu diễn để sau đó tiếp tục trở lại nhà hát.

Năm 2016, chị vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu NSUT. “Để có được ngày hôm nay tôi không chỉ phải đổ mồ hôi mà còn cả nước mắt”, NSUT Ngọc Bích chia sẻ.

 

 

Về với mảnh đất Hưng Yên, NSUT Ngọc Bích rất vui vì được về với 1 trong những cái nôi của nghệ thuật chèo truyền thống, quê hương của nhà cách tân chèo Nguyễn Đình Nghị. Chị mong muốn Hưng Yên cũng như các địa phương khác sẽ triển khai được sân khấu học đường, đưa dân ca nói chung và nghệ thuật chèo nói riêng vào trường học.

Tại buổi giao lưu, NSUT Ngọc Bích cũng thể hiện nhiều làn điệu chèo cổ như Dương xuân, Đường trường duyên phận, Nhị tình, Đường trường vị thủy, Đào liễu, Luyện 5 cung, v.v… Chị cũng nhiệt tình hát giao lưu, chia sẻ về cách diễn xướng với khán giả đến từ các CLB chèo ở thành phố Hưng Yên.

NSUT Ngọc Bích giao lưu cùng người hâm mộ

 

 

 

 

Nguồn: Đài PT & TH Hưng Yên

NSƯT Thanh Loan và con đường từ cô gái làng thành nghệ sĩ chèo

Chúng tôi gặp NSƯT Thanh Loan đúng thời điểm chị chào đón “đứa con tinh thần” mới – DVD mang tên “Hương quê” – ra mắt vào mùa xuân 2017. Đắm đuối với âm nhạc truyền thống từ thơ bé, tạo được dấu ấn trong lĩnh vực chèo, nhưng NSƯT Thanh Loan còn khiến công chúng ngạc nhiên với cá tính, tài năng qua các ca khúc dân ca, âm hưởng dân gian và hài chèo.

NSƯT Thanh Loan 

Chuyện cô gái làng thi tuyển diễn viên

“Tôi sinh ra trong vành nôi xứ Nghệ/ Uống nước dòng Lam từ thuở ấu thơ” – câu hát ngọt ngào, sâu lắng ấy vang lên qua giọng hát NSƯT Thanh Loan trong DVD mới nhất của chị phần nào phác họa được xuất xứ một cô gái quê sau gần 40 năm nay đã thành một nghệ sĩ tên tuổi. NSƯT Thanh Loan tâm sự, từ nhỏ chị đã bộc lộ năng khiếu “trời cho”, trở thành cây văn nghệ lúc còn học ở trường mẫu giáo. Trò chuyện cùng chúng tôi, đôi mắt chị đong đầy cảm xúc khi nhắc tới mảnh đất xứ Nghệ. Ở đó, chị có người mẹ tảo tần khuya sớm, bà có giọng hát rất hay, vai diễn Thị Mầu của mẹ chị từng nức tiếng khắp làng chèo Quỳ Lăng (Xã Lăng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An). Tới bây giờ, NSƯT Thanh Loan vẫn thuộc lòng những vần thơ khán giả tặng cho mẹ mình: “Tôi gặp lại cô Mầu thuở ấy/ nơi làng chèo lừng lẫy Quỳ Lăng”. Trong đĩa DVD mới ra mắt, người mẹ 76 tuổi của chị cũng xuất hiện với vai bà mẹ đôn hậu, tảo tần.

Mười sáu tuổi, vừa tốt nghiệp cấp ba, cô gái quê Thanh Loan dù đam mê ca hát, được bồi đắp bằng truyền thống chèo lâu đời của làng Quỳ Lăng, nhưng chưa bao giờ chị nghĩ mình sẽ theo con đường nghệ thuật chuyên nghiệp. Ngày Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh về quê tuyển diễn viên, suốt hai ngày không ai “lọt mắt xanh” giám khảo, cô thiếu nữ Thanh Loan vốn nhút nhát, mọi người đẩy mãi mới dám vào dự thi. Sau này, chị được các thầy cô kể lại, ngay khi Thanh Loan đặt những bước chân đầu tiên lên sân khấu, hát những câu hát mộc mạc thì Ban Giám khảo đồng loạt gật đầu. Sau tin trúng tuyển, cô gái làng khăn gói ra Hà Nội học tập. Những người thầy – nghệ sĩ có ảnh hưởng lớn với NSƯT Thanh Loan mà chị luôn nhắc tới là: NSND Dịu Hương, NSND Trọng Đang, nghệ Minh Tuyết, Bích Ngọc…

Sau những năm tháng rèn giũa trong môi trường đào tạo nghệ thuật, NSƯT Thanh Loan tốt nghiệp với tấm bằng loại ưu, lần lượt nhận công tác tại Nhà hát Chèo Quân đội, Nhà hát Chèo Hà Nội. Bây giờ, ngẫm lại con đường nghệ thuật của mình, chị tâm sự: “Cuộc đời, suy cho cùng phụ thuộc ở chữ “duyên”. Có năng khiếu, đam mê tới đâu mà không gặp “duyên” cũng khó thành”. Xa quê đã lâu nhưng con người NSƯT Thanh Loan dường như vẫn “đặc sệt” bản sắc vùng miền xứ Nghệ. Chị bày tỏ rất chân thành, mình vốn xuất thân từ cô gái làng gắn bó với ruộng đồng mưa nắng nên sống ở thành thị bao lâu vẫn e dè, ngần ngại những ồn ào, hào nhoáng. Yêu cháy bỏng các làn điệu dân ca vùng miền, đặc biệt là dân ca xứ Nghệ, dường như mạch nguồn ấy để lại trong dung nhan, giọng nói, giọng hát của NSƯT Thanh Loan chất đằm lắng, ngọt ngào được lên hương theo thời gian và trải nghiệm.

Vai diễn sân khấu và vai diễn cuộc đời

Trên sân khấu chèo, NSƯT Thanh Loan chuyên đóng các vai phản diện như Sùng bà trong vở “Quan âm Thị Kính”, vai mụ Cám trong “Tấm Cám”. Chị kể, có lần đi Trường Sa diễn cho các chiến sĩ, chị đóng vai cô gái Huế ra Bắc đánh ghen trong vở chèo “Tuần ty đào Huế”. Diễn xong, bộ đội trên đảo vây quanh chị để “ngắm lại cái mặt kinh khủng” và không ngớt lời phân bua: “Sao nghệ sĩ ngoài đời hiền thế mà nhập vai sắc sảo đến vậy?”.

Lý giải về sự thành công của NSƯT Thanh Loan trong các vai phản diện, những người trong nghề đánh giá: NSƯT Thanh Loan sở hữu nhiều tố chất đặc biệt hợp với dạng vai cá tính này như: Chất giọng vang, khỏe, đầy nội lực, cộng với dáng vóc đẫy đà, khỏe mạnh và con đường bền bỉ rèn luyện, theo đuổi các vai phù hợp với mình. Ngạc nhiên nhất là các vai diễn phản diện của NSƯT Thanh Loan không bị khán giả “ghét”, “xếp sau” vai chính diện mà sau mỗi lần chị xuất hiện luôn nhận được những tràng vỗ tay rầm rộ, khán giả vào tận hậu trường nơi hóa trang để tận mắt ngắm nhìn nghệ sĩ.

Hỏi nữ nghệ sĩ về bí quyết “lấy lòng” khán giả, chị tâm sự: “Với một người nghệ sĩ, tôi luôn quan niệm rằng, dù diễn trước một khán giả hay cả nghìn khán giả thì vẫn phải đầy “lửa” sân khấu. Khi nhận bất cứ vai diễn nào, dù dài hơi hay chỉ đôi ba phút trên sân khấu, tôi vẫn dành thời gian nghiên cứu kỹ nhân vật, ngày đêm tập luyện để diễn tả đúng tính cách nhân vật ấy. Đã làm nghề thì dẫu thế nào người nghệ sĩ cũng không bao giờ được phép hời hợt”.

 Yếu tố “lửa” sân khấu mà NSƯT Thanh Loan chia sẻ với chúng tôi rất trùng hợp với những gì NSND Trịnh Thúy Mùi nhắc đến chị mỗi lần đề cập tới câu chuyện chuyên môn trong lĩnh vực chèo. Ngoài chèo truyền thống, NSƯT Thanh Loan còn tạo được dấu ấn đặc biệt với hài chèo qua các tiết mục hài như “Bà già lên thành phố” hay vai vợ ba Bá Kiến đóng đôi với NSND Quốc Anh… đặc biệt, vai “Loan béo” trong tiết mục hài chèo “Gia đình văn hóa” của chị đã đoạt Huy chương Vàng Liên hoan sân khấu hài toàn quốc.

Đa diện trên sân khấu nhưng ngoài đời, NSƯT Thanh Loan luôn giữ sự nền nã, dung hòa. Điều nữ nghệ sĩ trăn trở nhất là con đường gìn giữ, phát triển các bộ môn nghệ thuật dân tộc, nhất là trong đời sống hiện đại, trước cám dỗ hào quang, vật chất… nhiều nghệ sĩ trẻ đang hời hợt, bỏ qua giá trị căn cốt của nghệ thuật. “Điều khiến tôi ấm lòng là ở Nhà hát Chèo Hà Nội nơi tôi công tác, tôi luôn cảm nhận được thế hệ nghệ sĩ trẻ rất năng động, làm nghề thực sự, đánh đổi bằng mồ hôi nước mắt. Thực tế, các ca sĩ hát thể loại nhạc hiện đại dễ có cơ hội kiếm tiền hay “nổi tiếng” bề nổi hơn là nghệ sĩ theo nghệ thuật truyền thống như chèo. Diễn chèo mỗi tiết mục phải mất tầm 2 tiếng đồng hồ trên sân khấu, trong khi thù lao lại thấp. Cũng thời gian ấy, ca sĩ khác có thể chạy được vài show diễn nên ai phải thật yêu nghề thì mới cháy hết mình được. Có người từng ví, nghệ thuật dân tộc như “thang thuốc Bắc”, hễ ngấm rồi là không bỏ được, cứ vấn vương suốt cuộc đời”, NSƯT Thanh Loan nói. Năm 2017, ngoài đi diễn theo kế hoạch của Nhà hát Chèo Hà Nội, NSƯT Thanh Loan dự định làm thêm một số tiết mục hài chèo.

Tính tới thời điểm hiện tại, NSƯT Thanh Loan đã cho ra mắt 6 CD âm nhạc, trong đó CD “Tìm về chốn quê” là “đứa con tinh thần” chị tâm huyết nhất mà theo chị giọng hát lúc đó đang ở độ chín, truyền cảm gợi lên nhiều tâm tư, lay động với khán giả. Đăc biệt, NSƯT Thanh Loan vừa hoàn thành đĩa DVD “Hương quê” phục vụ công chúng đón xuân 2017.

Theo:Thành Nam/ Giadinh.net

Tìm bài hát này:

  • nghe si cheo thanh loan
  • tieu su nsut thanh loan

NSUT Minh Phương hết mình cùng nghệ thuật chèo

Nghệ sĩ ưu tú Minh Phương hiện công tác tại Đoàn ca nhạc Đài TNVN. Trước đó, chị đã có nhiều năm cống hiến tại Đoàn chèo Hải Dương và đã giành được nhiều giải thưởng: Năm 1992, HCV “Cuộc thi giọng hát chèo, tuồng hay” tổ chức tại Hải Dương và cũng là nghệ sĩ trẻ tuổi nhất cuộc thi; Năm 2001, HCV “Hội diễn các vở chèo cổ” tại Quảng Ninh, giải nữ diễn viên xuất sắc và giọng hát chèo hay nhất; Năm 2005, HCV tại “Hội diễn sân khấu chèo chuyên nghiệp” tổ chức tại Quảng Ninh, và giải diễn viên tài năng trẻ. Chị cũng nổi tiếng với dòng nhạc trữ tình dân gian với 2 album bán chạy “Khúc hát sông quê Vol 1″ và “Khúc hát sông quê Vol 2″. 

NSUT Minh Phương

Tơ tình vẫn quyện năm cung

Thảo duyên

Dù không còn đứng trên sân khấu chèo chuyên nghiệp gần chục năm qua nhưng NSƯT Minh Phương vẫn luôn được đồng nghiệp và khán giả yêu chèo đánh giá là một trong những giọng hát chèo nữ xuất sắc nhất hiện nay.

Không phục vụ cho sân khấu chèo những vai diễn lớn nhưng ở cương vị Phó trưởng Đoàn dân tộc, Nhà hát Đài Tiếng nói Việt Nam, NSƯT Minh Phương vẫn từng ngày, từng giờ cùng những đồng nghiệp của mình mang tình yêu chèo đến với khán thính giả. Và cũng bằng cách đó, chị nuôi dưỡng tình yêu chèo trong mình như một dòng chảy bền bỉ và mãnh liệt.

Chúng tôi gặp NSƯT Minh Phương, khi chị đang tất bật chuẩn bị bữa cơm trưa cho cậu con trai đang vào tuổi lớn. Khác với hình dung về các nữ nghệ sĩ rằng họ thường điệu đà và ngại… việc nhà, Minh Phương khéo léo giã cua, rán cá như bất kỳ một bà nội trợ đảm đang nào. Và lần nào gặp, ấn tượng về chị cũng là gương mặt mộc không son phấn, quần áo giản dị.

Chị chia sẻ: “Dù công việc ở Đài khá bận nhưng hầu như trưa nào mình cũng thu xếp về nhà nấu cơm và ăn cùng con. Mình thích những món ăn dân dã như canh cua, cá kho và muốn tự tay nấu ăn cho bé”. Hỏi nhỏ chị rằng, nghệ sĩ thường ngại cho người khác thấy mặt mộc của mình lắm, sao chị lại khác thế, Minh Phương hồn nhiên: “Chỉ khi nào lên sân khấu mình mới trang điểm thôi, còn bình thường ít khi dùng đến son phấn lắm. Thế nên, nhiều người ở cùng tòa chung cư mà không biết mình là nghệ sĩ”.

Ngoài ấn tượng về sự giản dị thì gặp Minh Phương lần nào cũng vui. Chị trò chuyện chân tình, hồn hậu như với người trong nhà, luôn thẳng thắn và không né tránh ngay cả những chuyện nhạy cảm, riêng tư nhất.

Nhắc tới NSƯT Minh Phương, đồng nghiệp và khán giả mê chèo vẫn nhớ chị là “tài năng”, “hiện tượng” của làng chèo những năm cuối thế kỷ XX và giờ đây vẫn là một giọng ca xuất sắc. Chị sở hữu một ”kho” giải thưởng đáng nể mà bất cứ một nghệ sĩ nào cũng mơ ước. Một loạt Huy chương vàng ngay từ năm 18 tuổi trong các cuộc thi Giọng hát hay dân ca cho tới các vai diễn xuất sắc tại những Liên hoan sân khấu chèo toàn quốc. Và đặc biệt, chị được trao tặng danh hiệu NSƯT khi mới ngoài 30 tuổi.

Minh Phương có một xuất phát điểm mà người ngoài nhìn vào sẽ thấy là thuận lợi khi có mẹ là NSƯT Thúy Mơ – nguyên Phó trưởng Đoàn chèo Hải Dương. Chị chia sẻ: “Tôi may mắn bởi có lẽ từ khi nằm trong bụng mẹ, tôi đã được nghe hát chèo. Rồi thuở nhỏ theo mẹ lên đoàn tập vở, tôi cứ lê la trong cánh gà. Tiếng hát chèo ngấm vào tôi từ bao giờ chẳng biết. Nhưng rồi, khi bắt đầu có ý định đi theo con đường chuyên nghiệp thì bố tôi lại không đồng ý. Hơn ai hết, tôi hiểu lý do vì ông nhìn thấy sự vất vả của vợ nên không muốn con gái theo con đường chông gai ấy”. Nhưng rồi, Minh Phương cứ đi theo sự dẫn dụ của chiếu chèo mà không một ai, không một điều gì có thể ngăn cản.

Như là số phận. Như là định mệnh. Nổi tiếng không chỉ ở chiếu chèo xứ Đông mà ở sân khấu chèo cả nước nhưng Minh Phương bảo chị hoàn toàn bằng con đường tự học. Bé thì học lỏm mẹ và các cô, các bác trong đoàn. Lớn lên chút thì học truyền miệng từ những nghệ sĩ đi trước. Nhưng giọng hát trời phú, cái duyên sân khấu và đặc biệt là khả năng diễn xuất tinh tế đã giúp Minh Phương nhanh chóng được giao những vai diễn chính khi tuổi đời còn rất trẻ. Những vai diễn như Thị Phương đoan trang, nết na trong “Trương Viên”, Ngọc Liên đằm thắm, đôn hậu trong “Nam dược thánh nhân”, Dịu Hiền nồng nhiệt, say mê trong “Hai giọt nước”… là những vai diễn đỉnh cao của Minh Phương trên sân khấu chèo.

Thế nhưng, khi đang ở đỉnh cao của sự nghiệp diễn xuất, Minh Phương đã có một quyết định khiến không ít người bất ngờ. Chị rời Đoàn chèo Hải Dương về đầu quân cho Đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam.

Giờ đây, ngồi trò chuyện với Minh Phương khi chị đã rời xa tấm màn nhung sân khấu được tròn 8 năm, tôi hỏi rằng: Có khi nào chị nuối tiếc về quyết định ấy của mình không? Minh Phương thẳng thắn: “Xa sân khấu chèo nơi tôi đã gắn bó từ tấm bé có chống chếnh, hụt hẫng và nhớ nhung nhưng không nuối tiếc. Tôi đã cống hiến cho chèo những năm tháng sung sức và thanh xuân nhất của tuổi đời, tuổi nghề. Sau này, sân khấu chèo khó khăn hơn. Vở diễn cũng ít hơn thì vô hình chung, sự lui vào của tôi có thể lại dành cơ hội cho những bạn trẻ. Hơn nữa, về Nhà hát Đài Tiếng nói Việt Nam, tôi vẫn được hát chèo. Chỉ không tham gia những vai diễn thôi. Chưa một giây phút nào tôi xa chèo cả”. Đó là chuyện nghề, còn với NSƯT Minh Phương, quyết định ấy còn là quyết tâm thay đổi cuộc sống, ra khỏi cuộc hôn nhân bế tắc chục năm trời của mình.

Với cương vị Phó trưởng Đoàn dân tộc tại Nhà hát Đài Tiếng nói Việt Nam, NSƯT Minh Phương càng có cơ hội đưa chèo đến với khán giả. Không chỉ cùng các đồng nghiệp soạn lời, thu âm cho chương trình hát dân ca trên Đài Tiếng nói Việt Nam, gần đây, chị đã bỏ công sức gần 2 năm tìm bài, thu thanh và thu hình để ra mắt 2 sản phẩm chèo kỹ lưỡng.

“Tôi luôn muốn lưu giữ và phát huy nghệ thuật chèo truyền thống nhưng khán giả thì ngày càng ít người yêu mến chèo. Một trong những nguyên nhân là do lời chèo cổ gắn với các tích rất khó hiểu đối với thế hệ trẻ. Vì thế tôi quyết định làm một đĩa chèo mới với những hình ảnh mới để những ai chưa thực sự hiểu về chèo khi nghe, xem sẽ thấy dễ gần hơn”. Sản phẩm tinh thần này mang tên “Hát từ mảnh đất quê hương” với 11 bài hát chèo như “Khúc hát chào xuân”, “Hồn quê”, “Mẹ tôi phơi lúa trên sân”… Đó cũng là những bài Minh Phương đã từng hát trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam và được nhiều khán giả yêu thích.

Nhiều người đã gửi thư về Đài yêu cầu phát lại. Đó cũng là động lực thôi thúc chị quyết định làm album chèo lời mới này. Song song với đó, Minh Phương cũng không quên dành tặng những khán giả mê chèo cổ album với 10 ca khúc như “Đò đưa”, “Hát ru”, “Luyện năm cung”, “Tình thư hạ vị”…Với hai sản phẩm âm nhạc này, chị và ê kíp đã mất nhiều thời gian đi tìm những ngôi nhà, ngôi chùa cổ hay những nơi có khung cảnh xưa hợp với bài hát để quay.

Dẫu không còn được khóc cười hết mình với từng vai diễn nhưng mỗi khi được thả hồn trong từng giai điệu chèo, Minh Phương cũng thấy nỗi nhớ sân khâu như nguôi ngoai phần nào. Bên cạnh chèo, NSƯT Minh Phương còn chinh phục khán giả bằng những ca khúc mang âm hưởng dân ca. Hai album “Khúc hát sông quê Vol 1″ và Khúc hát sông quê Vol 2” với những ca khúc như “Em yêu anh như câu ví dặm”, “Giận mà thương”… được đông đảo khán giả cả nước ủng hộ.

Nhìn căn hộ chung cư ấm cúng ở trung tâm Hà Nội được chị chăm chút kỹ lưỡng từng góc nhỏ là sẽ thấy người nghệ sĩ ấy tìm được sự bình an, hạnh phúc trong tâm hồn. Người ta nói, phụ nữ khi hạnh phúc thì không giấu được. Nó lấp lánh trong câu chuyện, nụ cười.

Minh Phương chia sẻ, chị hài lòng và hạnh phúc với cuộc sống gia đình, bên người chồng ít nghe chèo nhưng luôn hiểu và chia sẻ với tình yêu nghệ thuật của vợ. Minh Phương trìu mến khi kể về cậu con trai đang học cấp hai đã mang gen nghệ thuật của mẹ. Dù ít khi được mẹ kèm cặp dạy hát vì chị quan niệm, con còn nhỏ, cứ học văn hóa tốt đã nhưng cậu bé đã sở hữu giọng hát truyền cảm, từng nhận được Huy chương vàng cuộc thi giọng hát hay Sơn ca toàn quốc.

Là người từng nếm trải những đổ vỡ trong hôn nhân nên người nghệ sĩ tài sắc ấy hiểu giá trị của hạnh phúc thực sự. Không phải là thứ hạnh phúc phù phiếm hào nhoáng mà là cái gần gũi, thân thuộc và có thể nắm bắt được. Đã từng đau khổ nên chị hiểu, hạnh phúc không tự dưng mà có. Nó phải đến từ những gìn giữ, chăm chút hằng ngày. Thế nên NSƯT Minh Phương, niềm vui của chị sau mỗi buổi thu thanh hay đi diễn là về nhà dọn dẹp nhà cửa, nấu ăn.

Rất hiếm khi mọi người thấy chị ngồi đâu đó trong những cuộc vui tụ họp đông người. Sinh ra trong gia đình có mẹ là nghệ sĩ, ngày bé chủ yếu là bà chăm sóc, chị thấu hiểu hơn ai hết sự thiệt thòi của những đứa con khi mẹ đi diễn. Vì vậy chị luôn có ý thức để con không phải lại những thiệt thòi này. Ngay ở giai đoạn bận rộn nhất chị luôn thu xếp để con ở bên mình, chăm bẵm cho con từ bữa ăn, giấc ngủ, chia sẻ với con mọi điều như một người bạn.

Ai biết thì sẽ hiểu sự cởi mở nhưng rất thẳng thắn của NSƯT Minh Phương. Có điều gì chưa hài lòng, chị nói ngay và sau đó là thôi không bao giờ để bụng. Một nguyên tắc bất di bất dịch trong nghề là chị không bao giờ nhận đi hát ở đám cưới, quán ăn dù cát sê cao đến đâu và ngay cả ở thời điểm chị vừa chân ướt chân ráo lên Hà Nội phải ở nhà thuê.

Chị tâm niệm, người nghệ sĩ trước hết phải tôn trọng mình mới mong được khán giả tôn trọng. Khi tôi ngồi viết những dòng này, có thể chị đang thả hồn trong phòng thu với một giai điệu chèo nào đó hay cũng có thể đang tất bật chuẩn bị cho bữa cơm gia đình. Nhưng làm gì thì, tôi cũng thấy chị hết mình. Và hạnh phúc chắc chắn sẽ ở lại với những người biết gìn giữ vun trồng.

Nguồn: VNCA

 

Hồng Tươi – “Nữ diễn viên xuất sắc có giọng hát chèo hay nhất”

Chèo là bộ môn nghệ thuật truyền thống đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Trải qua nhiều thế kỷ hình thành và phát triển, chèo đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu và được yêu thích bậc nhất của hàng triệu người dân Việt nam. Đóng góp vào sự phát triển của nghệ thuật chèo, không thể không kể đến vai trò của các  nghệ sĩ chèo, những người đã trực tiếp truyền tải những vẻ đẹp của chèo tới hàng triệu khán giả.

Hồng Tươi, người nghệ sĩ có khuôn mặt khả ái, dịu dàng, cùng với chất giọng chèo mượt mà, sâu lắng…đã giúp chị nhanh chóng chiếm được niềm yêu mến của công chúng yêu chèo. Hồng Tươi, sinh năm 1975, quê Kim Tân, Kim Thành, tỉnh Hải Dương, sinh ra và lớn lên trong một gia đình không có ai theo nghệ thuật. Ngay từ khi còn nhỏ, Hồng Tươi đã say mê những làn điệu chèo mượt mà và sớm bộc lộ năng khiếu ca hát. Chị đã đến với chèo hoàn toàn bằng cái duyên, bằng tình yêu nghệ thuật và tinh thần quyết tâm học hỏi. Từ đó, sân khấu chèo như cái nghiệp, nó theo chị từ lúc nào chị cũng không biết!

Nghệ sĩ Hồng Tươi

Trao đổi với chị, tôi được biết: Con đường, sự nghiệp của chị kể từ năm 1997, tham gia học, công tác tại Đoàn chèo Hải Dương (nay là Nhà hát chèo Hải Dương), Hồng Tươi được đào tạo theo lối truyền nghề, học từ các nghệ sĩ nổi tiếng như: nghệ sĩ ưu tú Thuý Mơ, Ngọc Bảo và các anh chị em trong Đoàn chèo…, từ những vai diễn phụ và nỗ lực học tập không mệt mỏi, năm 1999, chị chính thức trở thành diễn viên của Đoàn chèo. Bởi lòng yêu nghề cùng với sự nỗ lực phấn đấu vươn lên, trên sân khấu, Hồng Tươi từng bước trưởng thành, chị được các tác giả, đạo diễn giao các vai diễn chính: vai Thị Kính trong vở “Quan âm Thị Kính” và vai Quận chúa Ngọc Liên trong vở Nam dược Thánh nhân”…

Hồng Tươi, với niềm đam mê môn nghệ thuật chèo, sự cố gắng học tập, tinh thần vượt khó vươn lên, Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc năm 2009, chị đã giành được Huy chương vàng với vai diễn chính (vai Huệ) trong vở “Cơn bão màu da cam”. Thành công đó là niềm hạnh phúc, một bước ngoặt lớn nhất trong sự nghiệp ca hát của chị, bởi đây là lần đầu chị được chính thức làm việc với các thầy là tác giả, đạo diễn…đó là một trong những cơ hội tốt  giúp chị học tập, có thêm kinh nghiệm, yêu và say mê chèo hơn. Thành công, tiếp nối của sự thành công, năm 2009, Nhà hát dựng vở “Lưu Bình Dương Lễ”, chị được giao vai (nàng Châu Long). Vở diễn được đi biểu diễn ở nhiều nơi trong và ngoài tỉnh, được đông đảo nghệ sĩ, khán giả đánh giá cao. Đạo diễn Đoàn Vinh đã nói: “Nàng Châu Long của Hải Dương so với Châu Long của Nhà hát Chèo Việt Nam có nhiều ưu thế và sáng tạo”. Đây có thể nói là một vai diễn ấn tượng, rất hợp với chị, giúp chị ngày càng khẳng định được chỗ đứng của mình trong làng chèo.

Là người năng động, sáng tạo, với một giọng hát chèo hay và lòng yêu nghề đến cháy bỏng, năm 2011, Nhà hát chèo Hải Dương dựng vở “Đào lý một cành” – vở diễn kể về thân thế và sự nghiệp của nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Thị Minh Lý (người con quê hương Hải Dương), người đã đào tạo ra nhiều thế hệ diễn viên chèo tài năng cho sân khấu chèo Việt Nam, và Hồng Tươi vinh dự được giao vai nữ chính (Diệu Lý).

Cảnh trong vở “Đào lý một cành”

Để có được sự thành công trong vai diễn (Diệu Lý), chị đã được lãnh đạo Nhà hát cũng như các anh chị em trong Đoàn tạo mọi điều kiện giúp chị hoàn thành vai diễn. Bên cạnh thuận lợi, chị cũng gặp không ít những khó khăn trong tập luyện, ban đầu tác giả Trần Đình Ngôn và đạo diễn Bùi Đắc Sừ, chưa tin tưởng, vẫn cho là Hồng Tươi còn quá non nớt. Tuy nhiên, sau buổi chạy diễn đầu tiên của vở, các thầy đã đánh giá Hồng Tươi khác hẳn. Đạo diễn Bùi Đắc Sừ nói: “Trước đây chúng tôi đánh giá Tươi được 6 điểm nhưng bây giờ chúng tôi đánh giá cháu được 9 điểm và chúng tôi rất hài lòng. Đến giờ tôi có thể nói rằng: Đi khắp đất nước này để chọn bà Minh Lý thì tôi vẫn chọn cháu Tươi”. Liên hoan Sân khấu chèo tại Thái Bình, vở “Đào lý một cành” khi diễn xong đã có người nhận xét: “Vở diễn làm nức lòng khán giả thành phố Thái Bình”…

Với tình yêu nghệ thuật, cùng sự dìu dắt của các nghệ sĩ đàn anh, đàn chị, Hồng Tươi đã có được thành công lớn: năm 2011, tại Liên hoan Sân khấu chèo toàn quốc, nghệ sĩ trẻ Hồng Tươi đã giành Huy chương vàng cho vai diễn chính (vai Diệu Lý) trong vở “Đào lý một cành” và giải “Nữ diễn viên xuất sắc có giọng hát chèo hay nhất”. Thành công đó phần nào khẳng định được tài năng, lòng yêu nghề, lao động cống hiến hết mình vì nghệ thuật của chị. Hồng Tươi chinh phục người nghe bằng giọng hát mượt mà, giàu cảm xúc. Tin rằng, với tài năng sẵn có và tinh thần cố gắng học tập, với lối diễn bằng tất cả tâm hồn, nghệ sĩ chèo Hồng Tươi sẽ gặt hái được nhiều thành công trong các vai diễn, để tô thắm thêm truyền thống chiếng chèo Xứ Đông.

Nguồn: Theo Bùi Hằng/ Tuyên giáo Hải Dương

Tìm bài hát này:

  • Năm sinh NSƯT Hồng Tươi
  • nghệ sỹ hát hay các đoàn chèo nổi tiếng

“Thị Màu” làng chèo chia sẻ “nghệ thuật hôn nhân”

Hơn 10 năm chung sống, Thu Huyền và ông xã (ca sĩ Tấn Minh) chưa bao giờ to tiếng. Trong làng giải trí Việt, cặp đôi nổi tiếng này cũng được đánh giá hình mẫu “trong ấm, ngoài êm” đáng mơ ước.

 

Đặt “chúng ta” lên trên “cái tôi”

Bước vào làng chèo từ năm 14 tuổi, Thu Huyền làm xiêu lòng rất nhiều chàng trai bởi sự xinh đẹp, duyên dáng. Mối tình đầu đời của cô không phải là ông xã hiện tại. Nhưng có một điều kỳ lạ là trong suốt một thời tuổi trẻ ấy, Thu Huyền và Tấn Minh đã đi bên nhau. Họ đã chứng kiến những mối tình của nhau, để rồi sau hơn mười năm đồng hành như hai người bạn mới nhận ra người kia là “một nửa” của mình.

 

Hai người đến với nhau không còn những đam mê như thời trẻ bởi đã đi qua rất nhiều nỗi buồn phiền, mất mát trong tình yêu. Nhưng tình cảm của họ có sự sâu lắng và bền vững qua thời gian dài làm bạn. Có lẽ bởi vậy mà hơn 10 năm nay, hạnh phúc của cặp đôi này chưa một lần sóng gió.

 

Không phải ngẫu nhiên mà Tấn Minh – Thu Huyền được bầu chọn là một trong 100 gia đình trẻ tiêu biểu của Hà Nội năm 2012. Cặp đôi trai tài, gái sắc này đã trải qua hơn 10 năm hôn nhân trong bình yên, hạnh phúc.

 

Điều đáng nói, họ đều là những nghệ sĩ nổi tiếng trong giới showbiz. Thực tế, cái tôi của người nghệ sĩ rất lớn. Bởi thế khi nói đến hôn nhân của nghệ sĩ, người ta thường liên tưởng đến sự mong manh, dễ vỡ. Nhưng bao nhiêu năm qua, cặp đôi nghệ sĩ Tấn Minh – Thu Huyền đã đi ngược lại suy nghĩ ấy. Sau ánh hào quang sân khấu, họ lại trở về với vai trò là người chồng/vợ, cha/mẹ mẫu mực với con cái.

 

“Nghệ sĩ phải có cái tôi. Có cái tôi đó, người ta mới đứng trên sân khấu để khẳng định mình và nổi tiếng được. Nhưng khi về với gia đình, mỗi người phải biết gạt bỏ cái tôi của mình để sống cho cái ta chung. Có như vậy, cuộc sống mới hạnh phúc dài lâu được”, Thu Huyền chia sẻ.

 

Mặc dù cả hai đều đam mê nghệ thuật nhưng với cặp đôi này, gia đình vẫn là số một. Cả Tấn Minh và Thu Huyền đều cố gắng hạn chế tối đa việc nhận sô vào cuối tuần để dành thời gian trọn vẹn cho hai con trai.

 

Theo Thu Huyền chia sẻ, để có một cuộc hôn nhân êm ấm, bên cạnh việc gạt bỏ cái tôi, hai vợ chồng còn cần phải có ý thức giữ gìn hạnh phúc. Trong đó, vai trò của người phụ nữ được đề cao hơn cả. Chính vì ý thức được điều này, cô luôn cố gắng tạo không khí vui vẻ trong gia đình. Cô cũng sẵn sàng gác lại đam mê nếu điều đó là cần thiết cho chồng con.

 

Nữ nghệ sĩ cho biết: “Nhiều người vì theo đuổi sự nghiệp mà quên đi hạnh phúc của bản thân. Huyền nghĩ, cuộc sống như thế thật buồn tẻ và mất đi một nửa ý nghĩa của nó. Huyền chấp nhận là một người phụ nữ bình thường nhưng có một gia đình hạnh phúc, còn hơn một vị Tổng thống cô đơn, bất hạnh trong tình yêu”.

 

Vợ chồng Tấn Minh – Thu Huyền.

 

Là cô gái được cha mẹ nuông chiều từ tấm bé nhưng khi đã lập gia đình, Thu Huyền chẳng ngại việc gì từ nấu cơm, giặt giũ đến chăm con. Biết chồng mệt mỏi sau một ngày làm việc căng thẳng, cô luôn tự nhủ phải hạn chế thói xấu của phụ nữ là hay cằn nhằn.

 

Thu Huyền bảo, hơn 10 năm chung sống, vợ chồng cô chưa bao giờ to tiếng với nhau. Mỗi khi hai người tranh luận một vấn đề nào đó, thấy chồng nóng giận là cô chủ động dừng lại ngay.

 

“Thị Màu” làng chèo cho rằng: “Khi nóng giận, người ta sẽ không còn là mình nữa và sự việc có thể bị đẩy đi xa hơn. Vì thế, mỗi lần nảy sinh mẫu thuẫn, tôi hạn chế cãi vã bằng việc lẳng lặng rút lui. Khi đã bình tĩnh, cả hai mới ngồi lại nói chuyện, cùng tìm cách giải quyết và để hiểu nhau hơn”.

 

Đặc biệt, cả Tấn Minh và Thu Huyền đều biết chấp nhận những điểm chưa hoàn hảo của đối phương. Khi được hỏi về tật xấu của chồng, Thu Huyền dí dỏm bảo: “Anh ấy nhiều tật xấu vô cùng. Nhưng thay vì bắt chồng thay đổi, tôi tự tìm cách dung hòa”.

 

“Nếu đã xác định tật xấu đó không thể sửa được thì hãy chấp nhận như một phần tất yếu của người bạn đời. Nghĩ như vậy, cuộc sống sẽ trở nên thoải mái hơn.

 

Nếu chúng ta chỉ chăm chăm nhìn vào những khuyêt điểm của nhau thì cuộc hôn nhân sẽ rất ngột ngạt và đầy oán trách. Đúng là phụ nữ sau khi kết hôn rất dễ thay đổi tính cách theo chiều hướng tiêu cực, bởi gánh nặng công việc và gia đình khiến họ mệt mỏi, ít kiên nhẫn hơn. Nhưng chị em nên biết điều tiết cảm xúc của bản thân để giữ không khí đầm ấm trong gia đình.

 

Tôi cho rằng trong đời sống hôn nhân cũng cần phải có nghệ thuật, khi cần cương phải cương, lúc cần nhu thì phải nhu. Nếu mình không thấu hiểu người bạn đời và không tự điều chỉnh bản thân thì cuộc sống hôn nhân sẽ rất dễ tan vỡ”, Thu Huyền chia sẻ.

 

Không lãng mạn hão huyền

 

Khi mới bước vào cuộc sống hôn nhân, Thu Huyền cũng không tránh khỏi hụt hẫng. Thời yêu nhau, cô thích gì hay muốn đi đâu cũng đều được Tấn Minh chiều theo. Nhưng khi đã có gia đình, Tấn Minh coi con cái là ưu tiên số một, chứ không phải vợ. Mọi hành động lãng mạn, chiều chuộng đều tỷ lệ nghịch với những ngày tháng sống chung dưới mái nhà.

 

Điều may mắn là Thu Huyền cũng thuộc tuýp người thực tế. Bởi vậy, cô ngày càng nhận ra rằng, hạnh phúc đích thực là sự chia sẻ, cảm thông trong công việc, sinh hoạt thường ngày chứ không phải là những hành động lãng mạn viển vông.

 

Cô chia sẻ: “Sự lãng mạn chỉ như một lớp trang trí bề ngoài. Còn sự quan tâm, chăm sóc cho nhau mới là điều quan trọng để nuôi dưỡng cho “cây tình yêu” ngày càng xanh tốt. Huyền và anh Minh đều là nghệ sỹ nhưng không quá lãng mạn đến mức “tâm hồn treo ngược cành cây”. Chúng tôi luôn nhìn vào thực tế để quan tâm đến nhau một cách thiết thực nhất”. Bản thân Tấn Minh cũng thừa nhận, mình không thuộc tuýp người lãng mạn. Thay vì nói những lời nịnh vợ, anh thích thể hiện bằng hành động hơn.

 

Thu Huyền – “Thị Mầu” của làng chèo Việt Nam.

Một bí quyết vun đắp hạnh phúc khác của nữ nghệ sĩ chèo là sự vui vẻ. Huyền bảo, bản thân người phụ nữ vui vẻ thì mới tạo được không khí ấm cúng cho gia đình.

“Có nhiều người vợ vì quá chăm chút cho chồng con mà quên đi việc nâng niu bản thân. Vì thế, chất lượng cuộc sống của họ sẽ bị ảnh hưởng. Sức khỏe suy giảm, tinh thần lúc nào cũng trong trạng thái căng thẳng, tất yếu sẽ dẫn đến cáu bẳn, thiếu kiên nhẫn. Tôi đã từng nghe một người bạn thân than thở rằng, chị ấy muốn nấu món ăn ngon cho chồng con nhưng vì cơ thể mệt mỏi nên sinh ra cáu gắt.

 

Anh chồng thấy vậy liền góp ý: “Nếu em mệt thì mình ra ngoài ăn. Chứ em đừng vừa nấu ăn vừa quát, cả nhà ăn mất ngon”. Như vậy, đàn ông họ không cần bữa ăn ngon mà họ cần không khí yên ấm trong gia đình. Nghe chuyện này, tôi thấm thía được nhiều điều!”, Thu Huyền chia sẻ

 

 

Để tạo được sự vui vẻ cho bản thân, cô “Thị Màu” thường dành những khoảng thời gian nhất định cho riêng mình như đi mua sắm, gặp gỡ bạn bè, chăm sóc sắc đẹp…

 

NSƯT Tấn Minh hiện là Phó giám đốc Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long và NSƯT Thu Huyền hiện là Trưởng đoàn 2 – Nhà hát Chèo Hà Nội. Cả hai đều là những người giỏi trong chuyên môn và tham gia làm quản lý trong những lĩnh vực của mình. Tuy công việc bận rộn nhưng cả hai luôn biết cách dành thời gian cho gia đình.

 

Thu Huyền bảo, người phụ nữ là người giữ lửa trong gia đình. Bởi vậy, cô luôn có ý thức về điều đó, để sau một ngày làm việc, sau những chuyến công tác dài ngày, Tấn Minh lại thèm được trở về với mái ấm của mình. Nơi đó, cô đã trút bỏ lại ánh hào quang của sân khấu, những tràng pháo tay của khán giả để trở về là mình chân thực với những lo toan đời thường như hàng triệu người phụ nữ khác.

Nguồn: (Theo Gia Đình & Xã Hội)

 

Cùng ngắm nhìn những” bóng hồng” lừng danh của nghệ thuật chèo Việt Nam

Nhắc đến nghệ thuật Chèo người ta thường nhớ tới tên tuổi các nữ nghệ sĩ như: Như Hoa, Thuý Mùi, Thanh Ngoan, Minh Phương, Thu Huyền với giọng điệu giàu cảm xúc đi vào lòng người.

NSƯT Thanh Ngoan 

 

 

NSƯT Thanh Ngoan là người đầu tiên đưa ca trù vào chèo

 

Sinh năm 1966 trên đất Thái Bình, ngay từ hồi 9 tuổi, NSƯT Thanh Ngoan (tên thật là Nguyễn Thị Bích Ngoan) đã đi học hát chèo ở khắp nơi trong tỉnh.

Thanh Ngoan là cái tên rất đỗi quen thuộc với làng chèo. Hiện bà là Giám đốc Nhà hát Chèo Việt Nam – đơn vị có vai trò “anh cả” của bộ môn nghệ thuật chèo truyền thống. Thông minh, sắc sảo, lại mặn mà cuốn hút với giọng hát đặc biệt nên dù đã là Giám đốc một nhà hát danh tiếng, song tên tuổi Thanh Ngoan vẫn có sức hút mạnh mẽ với các sô diễn, nhất là trong những ngày xuân…

Thanh Ngoan cũng là người đầu tiên đưa ca trù vào chèo với vai chủ quán Hồng Chấu trong vở Hồ Xuân Hương. Nghệ sĩ diễn sắc sảo và điêu luyện trong cả vai đào lệch và đào thương. Bằng sự lao động nghiêm túc, bà đã gặt hái được nhiều thành công xứng đáng.

NSƯT Như Hoa

 

Cố NSƯT Như Hoa từng được đánh giá như mẫu mực của hát chèo Việt Nam trong suốt thập kỷ 60, 70 của thế kỷ XX

 

Theo chia sẻ của nhạc sĩ Dân Huyền trên báo VOV News, nghệ sĩ ưu tú Như Hoa (sinh năm 1942) tại Bắc Ninh, trong một gia đình yêu nghệ thuật. Ngay từ nhỏ, Như Hoa đã thuộc nhiều làn điệu dân ca và chèo của quê hương. Lớn lên, nghệ sĩ tham gia đội chèo Đông Đào, sinh hoạt tại khu Đồng Xuân (Hà Nội). Năm 1955, đội chèo Đông Đào có quyết định trở thành nòng cốt của đội chèo Đài Tiếng nói Việt Nam.

Từ đó, tiếng hát của nghệ sĩ Như Hoa (cùng với Kim Đức, Minh Tâm…) bắt đầu gắn liền với tiếng hát chèo trên làn sóng phát thanh. Như Hoa trở thành một trong những giọng hát được yêu thích nhất.

Người nghe rất khó quên những buổi hướng dẫn học hát chèo, nhớ mãi câu “tình tình, tình chát…” mà nghệ sĩ Như Hoa dùng lời thay cho tiếng trống trong điệu Lới lơ – “Em đẹp em xinh”…

Sáng ngày 21.11.1984, nghệ sĩ Như Hoa cùng bạn đồng nghiệp là nghệ sĩ Tiến Thành gặp tai nạn sau một buổi biểu diễn ở Bắc Giang, vài ngày sau 2 nghệ sĩ qua đời.

Sự ra đi của 2 người nghệ sĩ tài hoa từng khiến cả Hà Nội rúng động trước tin chẳng lành này.

NSND Thanh Hoài

NSND Thanh Hoài tên thật là Ngô Thị Thanh Hoài, sinh năm 1950 tại Hưng Hà, Thái Bình.

 

Nghệ sĩ chèo Thanh Hoài

 

inh ra và lớn lên ở đất chèo, lại được bồi dưỡng trưởng thành tại Đoàn chèo trung ương nay là Nhà hát chèo Việt Nam, nghệ sĩ Thanh Hoài có may mắn được dìu dắt, chỉ bảo và truyền dạy bởi các nghệ nhân hàng đầu của chèo như NSND Minh Lý, NSND Dịu Hương, NSND Bùi Trọng Đang, bà không chỉ thu được những vai diễn mẫu mực mà còn có được một vốn liếng khá phong phú về các làn điệu hát chèo.

NSND Thanh Hoài đã tham gia nhiều vở diễn trên sân khấu Chèo, bà để lại ấn tượng đặc biệt trong lòng khán giả với các vai diễn: Chị Ba (trong vở Chèo Lọ Nước Thần ), Súy Vân (trong vở Súy Vân), Thiện Nam (trong vở Quan Âm Thị Kính). Bằng tài năng đặc biệt của mình, bà đã gặt hái được nhiều thành công trên con đường nghề nghiệp, với những giải thưởng sáng giá trong và ngoài nước.

Năm 2007, đánh giá những đóng góp của bà với nghệ thuật chèo nói riêng và sự nghiệp văn hoá nói chung, Thanh Hoài đã được phong tặng danh hiệu cao quý Nghệ sĩ Nhân dân.

Hiện tại, tuy đã nghỉ hưu nhưng tình yêu hát chèo vẫn luôn cháy bỏng trong trái tim NSND Thanh Hoài.

NSND Thúy Mùi

 

 

Nghệ sĩ chèo Thúy Mùi. 

 

Những ai yêu chèo đều biết tới giọng chèo đặc biệt của nghệ sĩ Thúy Mùi. Chị cũng ghi dấu trên sân khấu chèo với khả năng đảm nhiệm cả vai chính diện và phản diện như: Thị Kính, Nguyên phi Ỷ Lan, vai phản diện trong “Đồng tiền Vạn lịch”…

Đặc biệt, cái duyên đóng hài của bà luôn khiến mọi người cười nghiêng ngả bởi lối diễn tưng tửng, “diễn mà như không diễn”.

Nghệ sĩ chèo Thúy Mùi tên đầy đủ là Trịnh Thúy Mùi (sinh năm 1963). Nghệ sĩ sinh ra và lớn lên tại Khánh Mậu, Yên Khánh, Ninh Bình. Thúy Mùi là một nghệ sĩ ưu tú nổi tiếng trong làng chèo Việt Nam. Hiện bà là Giám đốc nhà hát Chèo Hà Nội.

NSƯT Minh Phương

 

 

Nghệ sĩ Minh Phương. 

 

Sinh năm 1974, trong một gia đình nghệ thuật có mẹ (NSƯT Thúy Mơ) và các em đều là nghệ sĩ của các đoàn chuyên nghiệp, nên từ khi biết nói, cũng là lúc Minh Phương biết lẩm nhẩm hát theo mẹ những làn điệu chèo quen thuộc. Minh Phương bảo, không biết mình gắn với chèo từ khi nào. Có lẽ, chính cái gien chèo của mẹ đã truyền sang, nó đã gắn bó với chị ngay từ khi còn trong bụng mẹ…

 

Xem Minh Phương diễn, các nhà đạo diễn sân khấu chuyên nghiệp như Nghệ sĩ nhân dân (NSND) Doãn Hoàng Giang, NSND Bùi Đắc Sừ, NSND Lê Hùng… đánh giá cao sự nhuần nhuyễn rất nghề của chị.

Với gần 20 năm trong nghề, Minh Phương đã có một “kho” giải thưởng không phải nghệ sĩ trẻ nào cũng có được, đó là kết quả cho những đóng góp, những cố gắng và tài năng của nữ nghệ sĩ.

NSƯT Thu Huyền

 

NSƯT Thu Huyền được biết tới là nghệ sĩ chèo trẻ đẹp, giỏi giang và có một gia đình hạnh phúc. 

NSƯT Thu Huyền sinh năm 1975, tại Hà Nội. Gia đình Thu Huyền không có ai làm nghệ thuật, nhưng từ tấm bé chị đã mê ca hát và thích được “thể hiện” tài năng trước sự cổ vũ từ những người xung quanh.

NSƯT Thu Huyền là một cái tên “đinh” trong làng chèo nước nhà, không xây dựng tên tuổi một cách ồn ào như những bộ môn nghệ thuật khác, nhưng nhắc đến Thu Huyền, nhắc đến Huyền “chèo” là người ta liên tưởng ngay đến vai Thị Mầu, đến ánh mắt sắc như dao cau của chị trên sân khấu.
Không chỉ thành công trong con đường nghệ thuật, Thu Huyền còn có một gia đình hạnh phúc bên ca sĩ Tấn Minh. Gia đình “trong ấm, ngoài êm” của Thu Huyền được nhiều người ngưỡng mộ.
Nguồn: Theo Dân Việt

Ca sĩ Phương Thanh hát cải lương với ‘Thái hậu Dương Vân Nga’

Hơn 10 năm sau khi tham gia vở cải lương Lan và Điệp, ca sĩ Phương Thanh lại được giới mộ điệu lẫn khán giả nói chung “chú ý” khi góp mặt trong vở Thái hậu Dương Vân Nga của đạo diễn Hoa Hạ.

 

 

Hát cải lương, lại là tuổng cổ trang nên Phương Thanh cho biết mình cần phải tập trung cao và cố gắng nhiều…

Về vai diễn “hứa hẹn” tạo nên những ý kiến trái chiều này, ca sĩ Phương Thanh cho biết: Đây là sự ưu ái của đạo diễn – NSƯT Hoa Hạ dành cho tôi. Lúc nào chị có dự án cải lương thì Phương Thanh luôn có vai (cười).
“Thật ra, Phương Thanh “theo” đạo diễn Hoa Hạ hơn 10 năm nay, từ những vở cải lương Kim Vân Kiều, Chiếc áo thiên nga, Lan và Điệp… Lần này cũng vậy, khi chị bắt đầu dự án dựng lại vở Thái hậu Dương Vân Nga, tôi nhận lời tham gia ngay vì quá thích”, nữ ca sĩ Trống vắng nói thêm.
Phương Thanh vào vai Kỳ Hoa trong vở Thái hậu Dương Vân Nga
* Chị chia sẻ một chút về quá trình chuẩn bị lẫn tập luyện cho vai diễn của mình?
– Ca sĩ Phương Thanh: Tôi tập trễ hơn so với mọi người một chút, vì đầu tháng 4 này  tôi có chuyển biểu diễn đặc biệt – hát phục vụ các chiến sĩ ở Trường Sa. Tôi sẽ phải tập gấp rút do không có nhiều thời gian. Kịch bản và các clip sẽ được quay lại và gửi cho tôi tự tập. Chắc sẽ rất khó nhưng Phương Thanh sẽ cố gắng vì đây là vở diễn tôi rất yêu thích.
* Không phải ca sĩ biết hát cải lương nào cũng mạnh dạn… thử sức. Chị có nghĩ là mình rất can đảm khi nhận vai trong vở cổ trang mà chị cho rằng “rất khó diễn” này?
– Phải nói rằng Phương Thanh là người “chuyên trị” về nhạc… nặng, như rock và các ca khúc có nhiều yếu tố “gào thét”. Nên khi hát cải lương, sẽ rất khó khăn để “chuyển giọng”. Đây lại là tuồng cổ trang, vừa hát vừa diễn thì càng không dễ. Hát phải có giọng óc kiểu cải lương nữa, do đó tôi càng phải tập trung cao và cố gắng nhiều.
* Vở diễn hứa hẹn sẽ được công chúng quan tâm, ủng hộ khi không chỉ là tác phẩm quá nổi tiếng, mà còn được công diễn trong dịp 100 năm sân khấu cải lương. Việc một nghệ sĩ không chuyên như chị khi tham gia hẳn sẽ nhận không ít lời “bàn ra tán vào”, như là “đánh bóng tên tuổi”?
– Các anh chị em bên cải lương, cho đến lúc này, rất yêu quý Chanh, luôn hỗ trợ người tay ngang như Phương Thanh. Còn với khán giả, lực ca – diễn của Phương Thanh thế nào chắc mọi người cũng đã biết rồi. Nên tôi nghĩ Phương Thanh thuộc thành phần… PR cho vở diễn (cười). Cứ nghĩ như vậy đi, mình sẽ thấy nhẹ phần nào gánh nặng tâm lý. Mong mọi người tiếp tục ủng hộ, như đã từng với những vai diễn trong phim của người “lấn sân” như tôi (cười).
Nữ ca sĩ đang rất hào hứng khi chuẩn bị tập dượt cho vở cải lương này
* Gần đây chị xuất hiện khá nhiều trong các chương trình truyền hình với vai trò giám khảo, huấn luyện viên… Nhiều ý kiến cho rằng được mời lên những chiếc ghế ấy cũng đồng nghĩa với việc đã đến lúc nhường sân cho thế hệ trẻ?
– Phương Thanh và các đồng nghiệp cùng độ tuổi đang hướng dần về vị trí huấn luyện, giám khảo để chia sẻ, truyền lại kinh nghiệm. Tôi nghĩ rằng thế hệ chúng tôi phải nhường tất cả mọi vị trí cho các bạn trẻ, phải tôn người trẻ tài năng lên chứ (cười). Bây giờ, tôi sẽ đi sâu về nghệ thuật cổ truyển, đó là hồn cốt văn hóa dân tộc. Tôi sẽ có cách khác để tỏa sáng đúng với tầm hiểu biết của mình, để dành – mang đến cho mọi người những điều hoan hỉ nhất. Đó cũng là một trong những nhiệm vụ của nghệ sĩ.
* Trong những cách để tỏa sáng ấy, có dự án nào ra mắt trong năm nay không, thưa chị?
– Sẽ có album mới, hoàn toàn mới theo sự thay đổi của Phương Thanh hiện tại. Đĩa nhạc được tôi chuẩn bị trong 5 năm nay, kể từ album Người đàn bà lúc nửa đêm năm 2013, dự kiến sẽ ra mắt trong một vài tháng tới.
Gần đây chị hay có nhiều status về tình yêu, với không ít những dòng trạng thái đẫm chất ngôn tình. Đó là những gì của Phương Thanh hiện tại, như đĩa nhạc?
– Tôi lúc nào cũng có tình yêu mà (cười). Nếu không yêu thì làm sao có cảm xúc để làm việc…
Nguồn: Theo Báo Thanh Niên

NSND Bạch Tuyết: Tôi hết sức kính trọng nhân cách sống của anh Thanh Sang

Chia sẻ riêng với Thanh Niên về chuyện đời, chuyện nghề, NSND Bạch Tuyết đã nhắc khá nhiều đến hai người đàn ông mà bà trân quý, một người là người chồng cũ – cựu danh thủ Phạm Huỳnh Tam Lang, người thứ hai là NSƯT Thanh Sang.

NSƯT Thanh Sang và NSND Bạch Tuyết trong vở ‘Kiều Nguyệt Nga”

Trước thông tin NSƯT Thanh Sang đang bị hôn mê sâu do xuất huyết não, NSND Bạch Tuyết xúc động: “Nói về Thanh Sang thì tôi không nói là bạn nữa, bởi vì chúng tôi đã thân thiết với nhau còn hơn người trong gia đình. Khi biết anh bệnh, anh xảy ra chuyện tôi rất đau lòng. Tôi vẫn luôn điện thoại cho vợ anh để cập nhật tình hình. Hiện tại anh đang trong tình trạng hôn mê và mấy ngày qua tôi phải đi lưu diễn ở Hà Nội nên vẫn chưa đến thăm anh được. Nhưng chắc chắn tôi phải tranh thủ đến thăm anh sớm nhất có thể”.
Bà tâm sự về người đồng nghiệp thân thiết: “Nghệ sĩ Thanh Sang đã diễn với tôi nhiều tuồng, sau này khi anh vì lý do sức khỏe không đi hát thường nữa chúng tôi vẫn liên lạc với nhau thường xuyên. Tôi nhận thấy anh là người rất tốt bụng và thẳng tánh. Cái tình của Thanh Sang với đồng nghiệp rất đầy đặn. Mà những người thẳng tánh thì thường hay nóng nảy, Thanh Sang chính là một người như vậy, trước sau như một. Anh thẳng tánh đến nỗi cái gì trái tai gai mắt là nói ngay, thương là nói thương, không thân là nói không thân chứ không một mặt hai ba bốn lời. Tôi hết sức kính trọng nhân cách sống của anh, sống và làm việc với những người như vậy tánh tình mình cũng tốt đẹp theo”.
“Đời người mình có mặt rồi thì cũng phải đi. Như lời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, đời là cát bụi, ai cũng phải đến và đi không thể tránh được. Tôi tâm niệm quan trọng là cái tình khi có nhau thì đối xử với nhau cho chân thật để khi đi còn để lại cho nhau được cái tình tốt đẹp. Đó là điều mà Thanh Sang đã làm được”, bà nói thêm.
Đã ở tuổi thất thập cổ lai hy nhưng NSND Bạch Tuyết vẫn rất trẻ trung, đều đặn đi diễn khi có lời mời. Bà vừa dành cho chúng tôi cuộc trò chuyện thân tình về chuyện đời, chuyện nghề…
Con trai tôi gọi cải lương là “kinh của Việt Nam”
* Kính chào NSND Bạch Tuyết! Bà từng nhắc là “Cải cách hát ca theo tiến bộ. Lương truyền tuồng tích sánh văn minh”, nghĩa là bản thân cải lương được sinh ra là nhờ sự tiến bộ văn minh. Vậy mà ngày nay nhiều khán giả cho rằng cải lương đang thoái trào. Theo bà với tình hình hiện nay thì cải lương có thể cải cách theo giải pháp nào cho phù hợp?
– NSND Bạch Tuyết: Cải lương được kết tinh bởi nét đẹp, giá trị quý báu, hình thức tinh xảo từ các loại hình nghệ thuật sân khấu dân tộc có sẵn, được “làm mới” để thích nghi với sự đòi hỏi thưởng ngoạn của công chúng, thời đại mà vẫn giữ được nội dung yêu nước, yêu dân tộc, giữ gìn văn hóa tốt đẹp ngàn đời của đất nước.
Thứ nhất, chúng ta có rất nhiều trung tâm văn hóa, nhưng hầu như thiếu hụt những nhà hát mang tính đặc thù do loại hình này đòi hỏi. Thứ hai, hiện nay thiếu vắng những cây viết, những nhà thiết kế, dàn dựng, hiểu thấu đáo âm nhạc bài bản cải lương, để có thể giúp chúng ta không chỉ giữ gìn, mà còn phát triển giá trị nhân văn, tính chuyên nghiệp như cải lương vốn có. Các vở diễn tầm vóc, mang hơi thở cuộc sống, cảm thông chia sẻ phần nào số phận người trong những hoàn cảnh đáng thương, không may gặp phải biến động hình như còn quá ít.
Hai yếu tố vừa kể đưa đến sự tập dượt thiếu đồng bộ khiến cho các nghệ sĩ trẻ tài năng hiếm gặp được “cái nôi nghệ thuật” để trui rèn, phát sáng nghề nghiệp, càng thương hơn một số các bạn phải tự mình đối mặt với cái ăn cái mặc, tự xoay sở tồn tại tươm tất, tốt đẹp cho bản thân.
Cuối cùng tìm giải pháp để đưa cải lương tốt hơn hôm nay, tôi nghĩ câu trả lời mọi người mong đợi, dường như vẫn… còn đang bỏ ngỏ.
* Được biết con trai bà ở nước ngoài thu các trích đoạn cải lương hay vào một chiếc băng sau đó hay phát trong xe nghe. Khi bạn bè hỏi đó là gì thì anh ấy trả lời đó là “Kinh của Việt Nam”. Bà đã nghĩ gì khi con trai nói vậy?
– Sau này tôi hỏi con sao nói là “kinh”, cháu trả lời: “Có thì giờ nghe kỹ từng bài từng chữ, từng giọng ca tuyệt vời của các bác Tấn Tài, Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Thanh Sang… với nội dung yêu nước, yêu con người, dạy làm lành lánh dữ, dạy sống có ích cho mình cho đời, đầy chất nhân văn, đậm đà bản sắc dân tộc… con nghĩ có khác gì lời kinh đâu. Hơn nữa lời kinh này được các thế hệ nghệ sĩ thể hiện du dương hấp dẫn tuyệt vời, dạy người, sửa người mà không làm ai tổn thương”. Tôi thật sự xúc động và biết ơn những suy nghĩ đúng đắn của con.
* Mọi người cũng biết đến bà như một người rất hiếu học, suốt cuộc đời bà thường tạm dừng ngang việc đi hát để đi học. Vậy với bà, việc học và nghiệp diễn đâu mới là điều yêu thích nhất?
– Ông bà ta dạy về cái học: “Học mãi học hoài vẫn chưa bao giờ đủ”. Người Anh có câu: “People never too old to learn” (nghĩa là “người ta không bao giờ già để học”). Tôi chưa khi nào bằng lòng về mình, từ nghề nghiệp cho đến sự hiểu biết để có thể sống như một người tử tế. Cả hai việc học và hát luôn bổ sung cho nhau, là máu thịt là đam mê một đời, vì vậy cả hai đối với tôi đều là niềm yêu thích nhất.
– Phải đến năm 1985, bà mới bắt đầu học đại học. Thời điểm đó bà có gặp những khó khăn gì trước quyết định này?
– Khó vô vàn. Sau 32 năm, tôi có thể mượn câu của Bà Lựu để mô tả hoàn cảnh mình lúc bấy giờ: “Mình bị án oan cửa nhà tan nát, muốn lo lắng cho mình nhưng biết cậy nhờ ai? Thân đói nghèo quyến thuộc lánh xa, làng xóm dẫu thương nhưng sợ tai bay họa gởi”. Bà Lựu trong kịch bản Đời cô Lựu của tác giả Trần Hữu Trang khi đó “còn có ông Hội đồng đỡ nâng sớm tối”, còn tôi một mình, mỗi tuần nơi xứ người tự làm việc để tồn tại. Nói như ông bà ta, tôi “lấy mo quấn đít, tự đánh mình để có thể đứng thẳng người” đi đến thành công.
* Chia sẻ với báo giới, bà nói rằng ông Charles Đức – người chồng quốc tịch Pháp, có đến hai bằng tiến sĩ kinh tế ở Pháp và Hà Lan chính là người truyền cảm hứng và giúp đỡ rất nhiều cho mình trong việc theo đuổi học vấn. Cụ thể ông ấy đã giúp như thế nào?
– “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Tôi là đứa bé gái mất mẹ lúc 8 tuổi, và người cha có vợ khác. Cho nên đứa bé này cần phải luôn biết nương cậy ánh sáng và lòng từ tâm của cuộc đời để may mắn lớn lên không làm tủi buồn vong linh của mẹ. Ông Charles Đức là một trong những người tôi vừa kể.
Khi không đi diễn, “Cải lương chi bảo của Việt Nam” ăn mặc giản dị, hay đi chùa và làm từ thiện
Tạo hóa trêu ngươi
* Trước đó bà từng nói tình cảm bà dành cho người chồng đầu tiên là cố danh thủ Phạm Huỳnh Tam Lang rất sâu nặng, đến khi ông sắp mất hai người vẫn dành cho nhau một tình cảm nhất định. Vậy trong những mối tình đã đi qua đời, đâu là mối tình khiến bà cảm thấy đẹp nhất?
– Bù lại bao mất mát ông trời đã cho tôi gặp được những người tốt, rất tốt trên đường đời. Hơn nữa, trong suy nghĩ của tôi không có ai xấu, chỉ có những con người bất hạnh chưa đủ phước duyên để thể hiện cái tốt nhân bản, tự thắp đuốc cho kiếp người của mình. Như vậy họ đáng thương, đáng cứu vớt biết bao.
Sự lương thiện và tài hoa tuyệt mỹ của cầu thủ Tam Lang tiếp thêm ánh sáng tâm hồn cho cô đào cải lương Bạch Tuyết. Chúng tôi sống với nhau ngắn ngủi chưa tới 4 năm nhưng hạnh phúc tuyệt vời. Vì tôi không thể có con nên chúng tôi quyết định xa nhau để anh làm tròn chữ hiếu với mẹ, cưới vợ khác để sinh con nối dõi tông đường. Không buồn, không trách, không giận không hờn mà phải xa vì hoàn cảnh, y như trong các vở tuồng. Nhờ vậy sau bao dâu biển đổi thay mà cả hai vẫn tròn vẹn một chữ tình trong sáng với niềm thương kính không vơi.
* Từng bị chẩn đoán là hiếm muộn và phải ly hôn người chồng đầu tiên vì chậm con. Sau đó, lại có con ở tuổi 29 với người chồng sau, lúc đó bà cảm thấy như thế nào?
– (Cười lớn) về chuyện có con, không con và cuối cùng thì có một con trai. Tôi trộm nghĩ như vậy chúng ta mới có cụm từ “tạo hóa trêu ngươi” đôi khi thật tréo ngoe, cái đến không cần, cái cần lại không đến. Sau khi chia tay anh Tam Lang, tôi may mắn gặp một vị thiền sư, ông dạy tôi một pháp môn và nói rằng nếu chú tâm, tập đến lần thứ ba, tôi sẽ có được một đứa con như mong muốn. Và điều đó đã trở thành sự thật như chúng ta đã biết.
* Ăn chay hơn 30 năm, ở tuổi ngoài 70 bà vẫn giữ được sắc vóc mặn mà. Bà có thể chia sẻ bí quyết của mình?
– Có lẽ nhờ tập theo hơi thở thiền hơn 40 năm nên tôi được chút ít may mắn. Tôi ví mình như cái túi cũ, mình nâng niu, đựng vài món đồ nhè nhẹ, nên độ giãn của túi còn coi được một chút thôi. Bí quyết? Không có gì đâu, đi học, đi hát, và thỉnh thoảng cùng bạn bè hùn nhau giúp một ai đó cho người ta đỡ khổ…
Tôi mãi mãi biết ơn cuộc đời, ơn con người, bởi có những món nợ rất hồn nhiên, rất tình cờ trong suốt cuộc hành trình mà chúng ta không làm sao biết được địa chỉ chính xác để hoàn lại!
NSND Bạch Tuyết bắt đầu học đại học ở tuổi 40. Năm 1988, bà tốt nghiệp khoa đạo diễn ở Viện hàn lâm Sân khấu và Điện ảnh tại Sofia – Bulgaria.
Năm 1995, bà bảo vệ luận án tiến sĩ với đề tài “Sự thích nghi của nghệ thuật sân khấu dân tộc cổ truyền của các quốc gia Đông Nam Á với điều kiện sinh hoạt hiện đại của khán giả thế kỷ 21”, tại Viện hàn lâm kịch nghệ Hoàng gia Anh quốc và Viện hàn lâm Sân khấu Phim ảnh Bulgaria, trở thành nghệ sĩ cải lương đầu tiên của Việt Nam có học vị tiến sĩ.

Nghệ sĩ Thanh Hằng- nếu được chọn lại tôi vẫn chọn cải lương

Gần bốn mươi năm gắn bó với cải lương, NS Thanh Hằng đã có “gia tài” với hơn hai trăm vai diễn ở những tuồng cải lương nổi tiếng: Duyên kiếp, Truyền thuyết tình yêu, Xử án Trần Thế Mỹ, Người đẹp Bạch Hoa thôn, Giọt lệ cố nhân, Nỗi oan hoàng hậu, Phạm Công – Cúc Hoa, Gia tài của mẹ, Xử án Bàng Quý Phi…
Là con gái của đôi Nghệ sĩ Hương Huyền – Kim Hoa và thuộc thế hệ thứ tư của gia tộc Hai Núi, một trong những gia tộc nổi tiếng của sân khấu cải lương Việt Nam, Nghệ sĩ Thanh Hằng có lẽ là người duy nhất trong bốn chị em gái (Thanh Hằng, Ngân Quỳnh, Thanh Ngọc và NSƯT Thanh Ngân) thừa hưởng gen nghề của cả dòng tộc.

 

Bốn chị em gái Thanh Hằng, Ngân Quỳnh, Thanh Ngọc và NSƯT Thanh Ngân

Ông cố Hai Núi – một trong những Nghệ sĩ  tiên phong với phong cách hát bội pha cải lương, ông ngoại là kép hài, bà ngoại – Nghệ sĩ Tư Hélène nổi tiếng với những vai đào mùi, mẹ – Nghệ sĩ  Kim Hoa lại chuyên đảm nhận những vai đào độc, đào lẳng. “Cộng gộp” tất cả những yếu tố đó, Nghệ sĩ Thanh Hằng có thể thể hiện tốt tất cả các dạng vai từ đào mùi, đào lẳng đến đào độc, đào tính cách, đào mụ…
Ông cố Hai Núi – một trong những nghệ sĩ  tiên phong với phong cách hát bội pha cải lương, ông ngoại là kép hài, bà ngoại – Nghệ sĩ Tư Hélène nổi tiếng với những vai đào mùi, mẹ – Nghệ sĩ Kim Hoa lại chuyên đảm nhận những vai đào độc, đào lẳng. “Cộng gộp” tất cả những yếu tố đó, Nghệ sĩ  Thanh Hằng có thể thể hiện tốt tất cả các dạng vai từ đào mùi, đào lẳng đến đào độc, đào tính cách, đào mụ…

– Chào chị, nhiều đồng nghiệp vẫn chưa hết thắc mắc khi cách đây mười lăm năm chị bỗng nhiên bỏ tất cả để theo chồng định cư ở Úc khi đang là cô đào đắt show nhất cải lương lúc bấy giờ?

– Ngày đó tôi bị đặt giữa hai sự lựa chọn, gia đình hay nghề nghiệp. Khi ấy, cả hai đều như máu thịt bởi nghề hát đã ăn vào máu tôi từ trong bụng mẹ. Sau nhiều đêm suy nghĩ, tôi đã quyết định chọn gia đình, bởi cuộc đời tôi đã quá truân chuyên. Cha mẹ ly hôn, từ nhỏ tôi đã phải sống với nội, lớn lên một chút thì ở với gia đình cô dượng.
Mười hai tuổi đã một mình rong ruổi với các đoàn hát. Rồi gia đình lại ly tán. Tôi đã quá hiểu cảm giác sự cô đơn và khao khát một mái ấm gia đình. Tôi từng hứa với lòng, khi có được một gia đình êm ấm, tôi sẽ làm tất cả, sẵn sàng từ bỏ tất cả để giữ cho mình và cho các con một mái ấm. Khi đã quyết định, tôi vẫn rất sợ mình dao động trước ý kiến của những người xung quanh.
Tôi âm thầm hoàn tất thủ tục giấy tờ, từ chối lời mời của các bầu show với lý do cần giải quyết việc gia đình… cho đến ngày gần lên máy bay.

– Chị mất bao nhiêu lâu để có thể thích nghi với điều đó?

– Lúc mới sang Úc, hai con đều còn nhỏ, tôi đã xác định sẽ chuyên tâm làm “bà nội trợ”, lo cơm nước, đưa đón con đi học… Nhưng ở Úc rồi, mọi thứ không đơn giản như tôi nghĩ. Cả ngày bận bịu, có lúc tôi tạm quên, nhưng khi chồng con đã về nhà, sau bữa cơm chiều, lòng tôi luôn có những cảm giác khó tả.
Không nhớ bao nhiêu lần tôi phải chạy vào nhà tắm, mở nước thật lớn để tiếng nước chảy át đi tiếng khóc. Tôi không dám xem, không dám nghe bất kỳ chương trình cải lương nào của Việt Nam. Có lúc tiếng đàn vừa vang lên, tôi phải vội tắt ti vi và nghe lòng quặn thắt.

Thời điểm sang Úc được khoảng sáu tháng, tôi được mời lên trường học của con gái lớn để nghe nói về chuyện học hành của con. Tôi không biết tiếng Anh nên phải chờ người phiên dịch. Ngồi chờ hơn một tiếng đồng hồ vì người phiên dịch giúp miễn phí và chỉ có thể đến trường sau giờ làm việc.
Thầy giáo của con thì sốt ruột đi tới, đi lui, vẻ mặt đầy lo lắng, tôi thì ngơ ngác vừa lo sợ, vừa ái ngại vì không biết chuyện gì xảy ra… Sau đó, dù đã được con giải thích thầy áy náy vì thấy tôi phải ngồi chờ quá lâu, nhưng thấy lòng mình ngổn ngang những nỗi buồn, tủi… tôi đã òa khóc. Ngay hôm đó, tôi nhận ra rằng, mình không thể tiếp tục cuộc sống bằng những nỗi buồn, bằng cảm giác hụt hẫng kéo dài.

Hơn nửa đời người, tôi đã đi qua không biết bao nhiêu cung bậc thăng trầm, khổ đau, nước mắt, vinh quang… Cuộc sống của tôi bây giờ là gia đình, là con cái và đó cũng chính là sự chọn lựa của tôi. Như tỉnh giấc sau cơn mê, tôi bắt đầu đi học lái xe, học tiếng Anh, học nghề… và quan trọng nhất là học cách thích nghi với cuộc sống mới.

– Nhiều Nghệ sĩ sau một vài năm ổn định cuộc sống sẽ trở về Việt Nam hoạt động nghệ thuật, còn chị, vì sao chị phải chờ đến mười lăm năm?

– Cũng có vài lần tôi nhận được lời mời tham gia chương trình cải lương, phim ảnh ở Mỹ và Việt Nam. Có lúc tôi kiên quyết từ chối, nhưng cũng có lúc “thèm diễn” quá, tôi nhận lời. Tôi lao vào sắp hành lý bằng tất cả sự hào hứng, vui mừng và cả sự tưởng tượng giờ phút mình được trở lại sân khấu, được nghe tiếng đàn…

Nhưng khi mọi thứ sắp xếp đâu đó, tôi lại giật mình nghĩ đến gia đình, đến những lúc chồng con về nhà không ai cơm nước… Rồi nghĩ đến cả những chuyện không may có thể xảy ra với các con trong thời gian tôi đi xa. Vậy là lại hủy chuyến đi.

Có lẽ số tôi vất vả, nhưng cũng có thể cuộc sống phải trải qua quá nhiều biến cố khiến tôi lúc nào cũng trong tâm trạng sợ mất những gì đang có. Mãi cho đến đầu năm 2016, khi hai con gái đã trưởng thành, ông xã cũng đã nghỉ hưu, tôi mới mạnh mẽ “buông” gia đình để quay về Việt Nam làm nghề.

– Mười lăm năm, nhịp dừng quá dài so với cuộc đời người Nghệ sĩ có bao giờ chị thấy tiếc?

– Trong tôi luôn khắc khoải nỗi nhớ nghề, nhớ sân khấu, nhưng chưa bao giờ hối tiếc, bởi đó là chọn lựa của tôi. Cho đến giờ, tôi càng tin hơn bao giờ hết rằng: hãy cứ sống cho thật tốt, hãy làm những điều theo lẽ phải, những cánh cửa sẽ không bao giờ khép lại với mình.

Học xong khóa đào tạo nghề làm móng, đi làm không bao lâu, tôi phải nghỉ vì chứng bệnh bẩm sinh ở các đốt sống khiến tôi không thể ngồi lâu. Cơ duyên khác cho tôi gặp một khán giả từ khi còn ở Việt Nam để chúng tôi trở thành những người thân thiết và tôi trở thành người quản lý quán nước của cô ấy.

Cũng chính ở đây, tôi đã gặp lại những người bạn, người em đồng nghiệp cũ trong những cảm xúc vui buồn lẫn lộn, dù đó không phải là lần đầu tiên tôi gặp lại những đồng nghiệp quê nhà sang Úc biểu diễn. Và cơ duyên ấy đã đưa tôi trở về với niềm đam mê máu thịt. Tôi từng nghĩ mình đã hết duyên với nghiệp tổ, nhưng không phải. Chỉ là tôi phải đi một đường vòng, giống như sự thử thách trước khi tôi trở lại với “mái nhà xưa”.
Ở Úc không có nhiều chương trình biểu diễn như ở Mỹ mà chỉ có những chương trình biểu diễn quyên góp cho hoạt động từ thiện. Tôi bắt đầu tham gia những buổi đi hát ở chùa và không còn “sợ” nghe tiếng đàn, lời ca. Tôi có thể tập ca bất kỳ lúc nào: lúc lái xe đưa đón con đi học, khi đi bộ tập thể dục ở công viên gần nhà.
Về Việt Nam, được hòa mình trong các hoạt động nghệ thuật, tôi như cá về với nước. Là con nhà nòi, lớn lên với lời ca tiếng đàn, ca diễn với tôi giống như bản năng… cộng thêm nỗi nhớ và khát khao dồn nén suốt mười lăm năm, giờ chỉ cần nghe tiếng đờn rao là tôi bật thành lời ca; nghe hô “diễn” là hình dung liền vai diễn để được khóc cười với nhân vật.
– Nhiều khán giả và cả người làm nghề cho biết họ rất ngạc nhiên khi thấy chị hòa nhập khá nhanh với đời sống nghệ thuật trong nước…
– Tôi lại nghĩ ngược lại Cho đến giờ tôi vẫn đang phải học cách trở lại với khán giả, với sân khấu, phải làm sao để mình không cũ kỹ trong mắt công chúng. Tôi phải học, phải cập nhật mỗi ngày từ các đồng nghiệp cùng thế hệ hoặc các em mới trưởng thành sau này, thậm chí tôi có thể học được rất nhiều điều thú vị từ chính thí sinh các cuộc thi mà tôi làm giám khảo.

– Cảm nhận của chị về sân khấu cải lương ở TP.HCM sau mười lăm năm?

– Cải lương đã đi một chặng đường dài, trên đường đi của mình, cải lương khó tránh khỏi những cách làm sai sót. Chẳng hạn một thời cải lương đã quá lạm dụng các chương trình video. Khi rộ lên các chương trình video, khán giả bắt đầu mất dần thói quen đến sân khấu.

Khán giả không quên cải lương, cải lương không mai một. Vấn đề hiện nay là những người làm cải lương phải tìm cho ra chìa khóa để đưa cải lương đến với khán giả, đặc biệt là khán giả trẻ. Riêng các NS, diễn viên nỗ lực càng phải nhiều hơn gấp bội, nhất là lớp diễn viên trẻ, bởi các em là những người góp phần không nhỏ trong việc quyết định sự sống còn của cải lương.

Với tôi, bằng linh cảm của một người nghệ sĩ, tôi có một niềm tin đến kỳ lạ rằng cải lương sẽ trở lại đầy ngoạn mục trong năm 2017.

– Có những ý kiến cho rằng khán giả bây giờ không mê cải lương vì diễn viên hiện nay không hay như Nghệ sĩ ngày xưa?

– Các bạn trẻ bây giờ nhiều người rất giỏi, thông minh và có nhiều điều kiện tiếp xúc với các loại hình nghệ thuật hiện đại để tích lũy thêm vốn sống, kinh nghiệm nghề nghiệp. Tuy nhiên, điều các em còn thiếu là trải nghiệm, vốn sống.

Thêm một yếu tố khác, thế hệ chúng tôi, đa phần NS đều là con nhà nòi, trong khi diễn viên trẻ hiện nay phần đông lại là “tay ngang”, bắt đầu đến với cải lương sau khi được phát hiện từ một cuộc thi nào đó.
Thời chúng tôi, dường như người NS không bao giờ gục ngã trước bất kỳ khó khăn nào, từ đi diễn vùng sâu, vùng xa, vượt qua bão lũ… đến ăn cơm hội với những bữa ăn đạm bạc, với những món ăn lẫn toàn cát bụi do có một cơn gió lốc mạnh đi qua khi chị nuôi đang nấu nướng trong một cái chảo cực đại mà không có cái nắp nào có thể đậy vừa…

Dù là con nhà nòi thì mỗi Nghệ sĩ đều phải trải qua giai đoạn đóng tỳ nữ, bưng rượu… suốt hai ba năm mới được lên đào ba, rồi đến đào nhì trước khi trở thành đào chánh. Trải nghiệm của cả cuộc đời lẫn sân khấu cho thế hệ Nghệ sĩ  chúng tôi những vốn sống, cảm xúc để hóa thân vào nhân vật đầy đặn hơn.

Con đường nghề gập ghềnh, chông gai, trắc trở giúp chúng tôi biết trân trọng những gì mình đạt được và là lời nhắc nhở không bao giờ được phép hài lòng với chính mình. Ði trên một con đường quá bằng phẳng chưa chắc là lợi thế.

Nhưng dù có nhiều trải nghiệm, dù có tài năng đến mấy thì NS không thể mãi mãi là số một. Tôi quan niệm, nghệ thuật luôn đòi hỏi sự kế thừa và để có thể làm được điều này phải là nỗ lực từ cả hai phía: những người đi trước và những diễn viên trẻ. Tôi ước ao được làm nhịp cầu nối để đưa các em trẻ bước về phía trước. Nhưng ở chiều ngược lại, các em cũng phải biết tự rèn luyện và nỗ lực không ngừng.

– Nghe chị nói chuyện, thấy tình yêu chị dành cho cải lương vẫn đong đầy, nhưng lần này về nước lại chỉ thấy chị tham gia gameshow. Trong khi đó, gameshow đang bị một bộ phận những người làm nghề và khán giả phản ứng?

– Ðiều gì cũng có hai mặt. Gameshow bị phản ứng vì thực tế đã có một số gameshow thiếu sự chăm chút, thậm chí có những tiết mục gây phản cảm. Một số diễn viên trẻ mải mê gameshow mà lơ là tập luyện cho sân khấu, thậm chí làm hoạt động của sân khấu bị xáo trộn. Nhưng bên cạnh đó vẫn có những gameshow được đầu tư tốt cả về hình thức lẫn nội dung.

Nghệ sĩ Thanh Hằng (trái) và em gái Ngân Quỳnh trò chuyện về cuộc đời ở chương trình..

Riêng với những gameshow có yếu tố tài tử, cải lương, tôi cho rằng sẽ có những đóng góp tích cực cho hoạt động của sân khấu cải lương hiện nay. Khi khán giả cải lương có thói quen “mặc định” yêu mến những NS tên tuổi và khó lòng chấp nhận những diễn viên mới thì gameshow là cơ hội để khán giả có thể nhìn nhận lại một cách trung thực nhất tài năng của một lớp diễn viên trẻ của sân khấu cải lương.

Riêng với các em, gameshow như một cuộc sát hạch gay go, căng thẳng, đánh giá lại thực lực và khả năng của từng em. Ðôi lúc những thành công dễ dàng trong nghề nghiệp khiến các em quên nỗ lực và chưa xác định đúng vị trí, tài năng của mình trong nghề. Cọ xát ở một gameshow với các “đối thủ” đều là những diễn viên chuyên nghiệp cũng là cách để các em nhìn lại chính mình và hiểu hơn yếu tố khổ luyện để tìm được một vị trí trong lòng khán giả.

– Cám ơn chị về cuộc trò chuyện.

Tìm bài hát này:

  • vo cai luong thanh hằng

Hậu trường vui nhộn của các nghệ sĩ sân khấu gạo cội

Trong hơn 20 năm làm nghề, đạo diễn Thanh Hiệp lưu giữ nhiều khoảnh khắc hậu trường của các nghệ sĩ cải lương, kịch và ra mắt bộ sưu tập có tên “Sau bức màn nhung”. Trong ảnh, Nghệ sĩ Nhân dân Bạch Tuyết (trái) trêu Nghệ sĩ Nhân dân Ngọc Giàu: “Để tôi đội cho mình” trước khi cả hai ra sân khấu diễn trích đoạn “Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga” dịp Tết năm 2008.

Ca sĩ Ngọc Sơn bên nghệ sĩ Bạch Tuyết trong lần đầu anh hát cải lương. Anh vào vai Trần Bình Trọng của vở “Công chúa An Tư” do Bạch Tuyết đạo diễn ở chương trình “Làn điệu phương Nam” năm 2006.

NSND Bạch Tuyết bên nghệ sĩ hải ngoại Phượng Liên (giữa) và Ngọc Giàu trong chương trình sân khấu chuyên đề về Phượng Liên năm 2010.

Khoảnh khắc ngẫu hứng của Bạch Tuyết và Nghệ sĩ Ưu tú Minh Vương trong vai Phồn Y và Chu Bình với vở “Lôi vũ”. Những năm 1990, đây là tác phẩm sân khấu đình đám do Hội sân khấu TP HCM dàn dựng với các nghệ sĩ Bạch Tuyết, Thanh Sang, Bảo Quốc…

Ngoài giờ diễn, nghệ sĩ Mạc Can thường ngẫu hứng biểu diễn ảo thuật – một trong những tài lẻ của ông, bên cạnh viết văn.

“Làm duyên” – khoảnh khắc của NSƯT Minh Vượng được ghi lại sau những giờ diễn tất bật của chị.

Bảo Chung (trái) và Kiều Mai Lý thân thiết khi đóng chung một tiểu phẩm hài. Cặp nghệ sĩ kỳ cựu từng hợp tác trong nhiều tác phẩm chính lẫn hài kịch như “Tình mẫu tử” (soạn giả Viễn Châu), tiểu phẩm “Cọp mê số đề”, “Lỗi tại ai”…

Ngoài các nghệ sĩ gạo cội, Thanh Hiệp cũng ghi lại khoảnh khắc ngẫu hứng của các diễn viên trẻ. Nghệ sĩ Trinh Trinh (phải) tạo dáng bên ca sĩ Phương Thanh trong vở “Điêu Thuyền bái nguyệt” năm 2008. Phương Thanh từng có thời gian thử nghiệm trên sân khấu cải lương, hát bội qua các vở “Kim Vân Kiều”, “Chiếc áo thiên nga”, “Mênh mông tình mẹ”, “Lan và Điệp”…

Nguồn: Theo Tam Kỳ Giải trí/ Vnexpress.

NSƯT Xuân Hanh nghỉ hưu 10 năm vẫn đắm đuối với chèo

“Anh còn vấn vít tơ vương, vẫn yêu vẫn nhớ vẫn thương một người”. Câu hát chèo vọng ra từ chiếc radio trên tầng ba của khu tập thể Nguyễn Công Trứ (Hà Nội) – nơi Nghệ sĩ Ưu tú Xuân Hanh sống. Xuân Hanh thuộc thế hệ “vàng” của Nhà hát Chèo Hà Nội, là người chuyển thể kịch bản vở Quan lớn về làng – tác phẩm gây tiếng vang khi giành tới bốn Huy chương vàng tại Liên hoan Chèo toàn quốc năm 2011.

NSUT Xuân Hanh

Về hưu tròn 10 năm, ông sống cùng con trai út trong căn nhà rộng chừng 20 m vuông. Không gian chật chội nên mọi vật dụng thiết yếu trong nhà được nghệ sĩ kê gọn, treo cao nhằm chừa diện tích đặt chiếc giường ngay gian khách. Phía cuối nhà, cây đàn nguyệt cùng ông dọc ngang đất nước nhiều năm gác gọn trên nóc tủ, bụi bám mờ trục dây. Sẵn tập kịch bản cầm trên tay, nghệ sĩ nhấp chén nước đượm giọng, cao hứng hát trích đoạn chèo ông viết chưa lâu. Không trống chầu, đàn sáo hỗ trợ, nghệ sĩ vỗ tay tạo nhịp, khi thì đung đưa theo điệu hát. Ca được một đoạn, giọng ông dần chuyển khàn đục, hụt hơi và khó ngân dài.

Tuổi gần 70, Xuân Hanh mắc chứng tiền đình gây chóng mặt, thoái hóa đốt sống cổ và nhịp tim thiếu ổn định. Vì vậy, nhiều lúc việc viết lách của nghệ sĩ bị gián đoạn. Hễ đặt bút ghi chép mươi phút là người ông bủn rủn do máu không đủ lên não. Việc đi lại của nghệ sĩ cũng bị hạn chế. Những hôm ốm mệt, ông ngồi nhà hướng dẫn học trò tập vở bằng cách hát mẫu qua điện thoại. Ông bảo: “Tôi gần như đọc trên nhịp vì đâu đủ sức nữa mà ca”. Để duy trì thể trạng, nghệ sĩ phải phụ thuộc vào nhiều loại thuốc, chi phí mỗi tháng hết hai triệu đồng.

NSUT Xuân Hanh hát trích đoạn ” Người về nơi đất cũ”

Con trai út nghệ sĩ là diễn viên của Nhà hát Chèo Hà Nội. Lịch tập, diễn bận rộn nên anh ăn cơm nhà hát nhiều hơn cơm nhà. Người dân trong khu tập thể đã quen với hình ảnh Xuân Hanh hàng sáng dậy sớm đi chợ, tay cầm mớ rau xách túi thịt, rồi xắn tay vào bếp. Người không hiểu chuyện hay thắc mắc vợ đâu mà để ông tất tả với việc nội trợ. Người rõ gia cảnh thì giục ông tái hôn, sau còn có người chăm nom lúc đau ốm.

Thơ nghệ sĩ viết tặng vợ quá cố sau hai năm bà mất.

Vợ mất 18 năm nhưng chưa một lần Xuân Hanh mảy may tính chuyện gắn bó cuộc đời với phụ nữ thứ hai. Nghệ sĩ cũng chẳng than phiền cảnh sống vừa làm cha, làm mẹ. Những lần bạn bè rỉ tai mối lái, Xuân Hanh cười xòa rồi lảng đi. Thậm chí có phụ nữ trung niên từng mạnh dạn đến nhà ngỏ ý làm thân nhưng ông tìm cách từ chối khéo bởi nghệ sĩ còn yêu vợ, canh cánh nỗi lo con trai 40 tuổi chưa yên bề gia thất.

Nghệ sĩ đa cảm, mau nước mắt khi gợi kỷ niệm về bạn đời. Ngoài đắm mình trên chiếu hát, Xuân Hanh còn thích làm thơ. Mỗi vần thơ nghệ sĩ sáng tác được ghi chép cẩn thận vào hai cuốn sổ, có mục lục và tháng năm hạ bút. Trong hơn 100 bài viết, ông dành nhiều trang giãi bày về vợ và cuộc sống đơn thân. Đọc lại dòng chữ mờ nhòe trên trang giấy ngả vàng, Xuân Hanh lạc giọng, mắt ngân ngấn. Nỗi trống trải gần hai mươi qua trong ông khó có thể san lấp. “Nhưng buồn mãi sao được, vẫn phải vui, phải sống để con cái khỏi khổ, không bơ vơ”, ông nói. Trong mắt ông, vợ là phụ nữ dung dị, tằn tiện và hết lòng quán xuyến, gánh vác công việc nhà chồng. Thuộc mẫu người thẳng tính, nóng nảy nhưng nghệ sĩ thổ lộ ông chưa bao giờ to tiếng với vợ

Dù nghỉ hưu, kép chính vang danh một thời của Nhà hát Chèo Hà Nội vẫn cặm cụi gắn bó nghệ thuật cổ truyền. Ông dành thời gian vào nghiên cứu, chuyển thể tác phẩm kịch nói sang thể loại chèo. Hiện tại, ông cùng đạo diễn, NSND Doãn Hoàng Giang chuẩn bị dàn dựng vở Người về nơi đất cũ cho Nhà hát Chèo Quân đội.

Mới đây, NSƯT Xuân Hanh có tên trong danh sách đặc cách xét danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân. Biết tin, người dân khu tập thể mừng cho ông sau nhiều lần gửi hồ sơ thất bại. Nghệ sĩ kể về đến đầu ngõ, từ thợ cắt tóc, người trông xe rối rít: “Ối trời ơi! Nghệ sĩ Nhân dân về làng”. Xuân Hanh bối rối liền cắt ngang: “Khổ quá, đó mới chỉ là vòng hai thôi, còn vòng ba, bốn nữa. Các bà chúc mừng sớm, tôi xấu hổ lắm”.

Với Xuân Hanh, bất kể danh hiệu nào cũng mang giá trị tinh thần, khích lệ người làm nghề tận tâm cống hiến. Thời diễn liên tỉnh, bát cơm và vội, mồ hôi chảy giọt trên lớp phấn dày cộp nay không còn nhưng NSƯT Xuân Hanh vẫn nhớ như in giai đoạn hoàng kim của nghề diễn. Ông gắn bó với Nhà hát Chèo Hà Nội từ năm 1985. Nhắc tới Xuân Hanh, khán giả nhớ tới vai “kép độc” (phản diện) Sararicon – công tử ngạo mạn – trong vở Mối tình Đuôngnali. Cuối những năm 1980, Xuân Hanh cùng đoàn diễn tại Đà Lạt. Nhân vật Sararicon của ông bị người xem ghét đến nỗi khi diễn viên ra chào màn, khán giả ở dưới hô hào: “Đánh chết nó đi”, thậm chí họ chỉ lên tặng hoa cho người thủ vai chính diện. Trước lời cay nghiệt của khán giả dành cho nhân vật, nghệ sĩ hạnh phúc vì bản thân đã nhập vai thành công.

Đầu những năm 1990, Nhà hát Chèo Hà Nội công diễn Ngọc Hân công chúaĐêm hội Long Trì ở Cung Văn hóa Hữu nghị Việt – Xô (Hà Nội). Vở chèo ăn khách tới nỗi ngày diễn ba suất liền không nghỉ. Tranh thủ giờ giải lao, diễn viên để nguyên mặt ăn vội cơm trong cặp lồng hay lót dạ bằng bát phở, bánh mì để lấy sức diễn suất tối.

Trước khi đầu quân cho Nhà hát Chèo Hà Nội, “chàng Sararicon” nhỏ thó, gầy ốm ngày ấy trưởng thành từ phong trào văn nghệ vùng cao. Học hết lớp bảy, nghệ sĩ cao 1,43 m, nặng 43kg nên không đủ điều kiện nhập ngũ. Ông theo anh rể lên nông trường Hà Tuyên (nay là Tuyên Quang) làm công nhân. Dần dần, vì có giọng hát hay và khả năng sáng tác, Xuân Hanh lọt vào “mắt xanh” của ban lãnh đạo Đoàn Chèo Hà Nội. Buổi đầu, Xuân Hanh được giao vai chính diện – hoàng tử Pơ Liêm – trong vở Nàng Sita. Thế nhưng, điểm yếu về ngoại hình của Xuân Hanh khiến nhân vật lên sân khấu không tạo được hiệu ứng khán giả. Về sau, NSND Dương Ngọc Đức sắm cho Xuân Hanh những vai phản diện.

Giờ đây, sức yếu, nghệ sĩ ví mình như kiếp tằm trả nợ dâu. Ông lo lắng lớp diễn viên trẻ của Nhà hát dù được đào tạo bài bản, trình độ cao vẫn hát chệch nhịp, hơi không chắc chắn. Thỉnh thoảng ghé thăm đơn vị cũ, Xuân Hanh thẳng miệng mắng học trò vì diễn thiếu lửa, hời hợt khi hóa thân nhân vật.

Nguồn: Theo Trọng Trường – Giải trí/ Vnexpress

NSƯT Minh Vương được đề xuất trao danh hiệu NSND

Danh ca cải lương vui vì được đề xuất lên Hội đồng cấp nhà nước để xét trao danh hiệu mới.

Nghệ sĩ Ưu tú Minh Vương cho biết cách đây không lâu, đại diện Hội sân khấu TP HCM liên hệ để hướng dẫn ông hoàn thành hồ sơ xét tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân. Mới đây, Sở Văn hóa Thể thao TP HCM đề xuất hồ sơ của ông cùng 58 nghệ sĩ lên Hội đồng cấp nhà nước để được xét tặng danh hiệu NSND, NSƯT.

“Bên cạnh tình cảm lớn lao của khán giả, danh hiệu là một trong những phần thưởng ghi nhận nghề hát của tôi”, Minh Vương chia sẻ. Ông nhận danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú vào năm 2007.

Nghệ sĩ Ưu tú Minh Vương.

Bà Hồng Dung – phó Chủ tịch Hội sân khấu TP HCM – cho biết bà vui khi đồng nghiệp thân thiết được đề nghị xét danh hiệu mới. “Hội hạnh phúc vì các nghệ sĩ được đề xuất đều là những người có công to lớn trong ngành sân khấu, nghệ thuật. Anh Minh Vương là một nghệ sĩ nhiệt huyết với nghề đã lâu, việc được phong tặng danh hiệu là sự khẳng định cho đóng góp không mỏi mệt của anh”, bà nói.

Minh Vương sinh năm 1949, đi hát từ năm 14 tuổi. Năm 1964, ông đoạt giải Khôi nguyên vọng cổ. Sang thập niên 1970, Minh Vương được nhiều hãng đĩa để ý và mời thu thanh. Ông thành công với các vở diễn như Đời cô Lựu, Máu nhuộm sân chùa, Rạng ngọc Côn Sơn… Hiện, ở tuổi 69, nghệ sĩ vẫn miệt mài ca, diễn.

Ngoài Nghệ sĩ Ưu tú Minh Vương, Sở Văn hóa Thể thao TP HCM còn ký văn bản về đợt xét tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú, Nghệ sĩ Nhân dân 2018 đối với 58 cá nhân. Theo đó, có 17 tên tuổi đủ điều kiện đề xuất xét tặng danh hiệu NSND, như: diễn viên Việt Anh, Thanh Tuấn, Thoại Miêu, Thanh Ngân… 42 trường hợp đủ điều kiện đề xuất xét tặng danh hiệu NSƯT gồm: đạo diễn Vũ Trọn Nam, Ngọc Thơ, Nhâm Minh Hiền… và các diễn viên trẻ như Lan Phương, Mạnh Tràng, Võ Minh Luân, Hòa Hiệp…

Những cặp bạn diễn vàng trên sân khấu cải lương

Bạch Tuyết – Hùng Cường, Minh Vương – Lệ Thủy… không chỉ là đồng nghiệp mà còn trở thành bạn tâm giao trong cuộc sống.

NSND Bạch Tuyết – Hùng Cường

Cố nghệ sĩ Hùng Cường (tên thật là Trần Kim Cường) sinh năm 1936 tại Bến Tre, sau theo gia đình lên Sài Gòn sống. Ông đa tài khi hoạt động trên nhiều thể loại như: hát tân nhạc, cải lương, kịch nói, phim ảnh… Vốn xuất thân là ca sĩ tân nhạc, năm 1959, Hùng Cường bất ngờ chuyển sang diễn cải lương, gia nhập đoàn Ngọc Kiều. Vai diễn sân khấu đầu tay của Hùng Cường là Romeo trong vở tuồng Mộng đẹp đêm trăng. Sau đó, nghệ sĩ đảm nhận kép chính trong vở cải lương Tuyết phủ chiều đông. Vở diễn gây tiếng vang lớn, thu hút hàng nghìn khán giả.

Bạch Tuyết sinh năm 1945 tại Châu Đốc (An Giang) và được mệnh danh là “cải lương chi bảo” (bảo vật của ngành cải lương). Năm 1964, nghệ sĩ về hát cho đoàn Dạ lý hương. Một năm sau, vở Tần nương thất mang lại cho Bạch Tuyết huy chương vàng giải Thanh Tâm ở hạng mục nghệ sĩ xuất sắc.

Hai nghệ sĩ trên trang bìa quảng cáo.

Năm 1966, Hùng Cường gia nhập Dạ lý hương và cùng Bạch Tuyết trở thành cặp diễn viên ăn ý trong lòng khán giả. Năm 1971, bà cùng Hùng Cường mở gánh hát mang tên hai người (sau này đổi thành Đoàn ca kịch Bạch Tuyết). Sự hợp tác giữa Hùng Cường với Bạch Tuyết trong loạt vở như Yêu người điên, Tiền rừng bạc biển, Tuyệt tình ca, Má hồng phận bạc, Cho trọn cuộc tình… khiến khán giả kéo đến rạp đông nghịt. Tên của hai người xuất hiện đầy trên báo, pano khắp nẻo đường Sài Gòn. Gánh hát duy trì một thời gian rồi ngừng hoạt động.

 

NSND Bạch Tuyết trên sân khấu cải lương.

Năm 1980, Hùng Cường sang Mỹ định cư còn Bạch Tuyết – khi ấy 40 tuổi, bước vào giảng đường đại học, ngành cử nhân Ngữ Văn. 5 năm sau, bà trở lại sân khấu với vai Thái hậu Dương Vân Nga. Hùng Cường hay tin liền gọi cho bà, vừa khóc vừa chúc mừng. Đó là lần cuối cùng ông gọi. Năm 1996, Hùng Cường qua đời.

NSƯT Minh Vương – NSND Lệ Thủy

Minh Vương sinh năm 1949 tại Cần Giuộc (Long An). Năm 14 tuổi, sau khi đoạt giải “Khôi nguyên vọng cổ”, nghệ sĩ làm việc tại đoàn cải lương Kim Chung. Bốn năm sau, Minh Vương lên hàng kép chính và được nhiều hãng băng đĩa mời thu thanh.

Cặp nghệ sĩ nắm chặt tay nhau trên sân khấu một chương trình gần đây.

Lệ Thủy sinh năm 1948 trong gia đình làm nông tại tỉnh Vĩnh Long. Hoàn cảnh khó khăn, nghệ sĩ sớm theo bố mẹ lên Sài Gòn kiếm sống và xin làm việc ở gánh Trâm Vàng (Đồng Nai) khi mới 10 tuổi. Nghệ sĩ Minh Vương kể về lần đầu gặp Lệ Thủy: “Tôi được thầy dắt vào rạp Đại Đồng để xem tập vở Hành trang người trai. Ông bầu Long – người ký hợp đồng mời tôi về đoàn Kim Chung – đã giới thiệu với tôi cô đào đang tập trên sân khấu là Lệ Thủy”.

Ban đầu, Minh Vương thường đóng cùng Minh Phụng, Lệ Thủy nhưng chỉ ở vị trí “người đến sau” trong cuộc tình tay ba phổ biến. Sau khi Minh Phụng nghỉ hát, Minh Vương trở thành kép chính sóng đôi Lệ Thủy.

Sau năm 1975, cặp nghệ sĩ mới thực sự tạo nên cơn sốt và trở thành “hiện tượng” của sân khấu cải lương khi cùng về công tác ở đoàn văn công Giải phóng. Từ đây, nhiều vở diễn đã đóng đinh với Minh Vương – Lệ Thủy như Tô Ánh Nguyệt, Pha lê và cát bụi, Đời cô Lựu, Đêm lạnh chùa hoang, Lá sầu riêng… Khi các nghệ sĩ khác thể hiện vở diễn này, khán giả thường lấy Minh Vương – Lệ Thủy ra để so sánh, đánh giá.

Năm 1992, cả hai nhận giải “Nam – nữ diễn viên cải lương đóng chung được yêu thích nhất”. NSND Lệ Thủy từng tâm sự: “Chúng tôi hát chung với nhau riết rồi ăn ý, cũng không cố gắng xây dựng hình mẫu đôi nghệ sĩ nhưng không hiểu sao khán giả cứ thích. Tôi đi diễn ở đâu một mình là họ lại hỏi sao không có Minh Vương”.

Năm 2008, Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam trao danh hiệu “Đôi nghệ sĩ cải lương đóng chung lâu năm và ăn ý nhất” cho Minh Vương – Lệ Thủy. Trong gần 40 năm sóng đôi, hai nghệ sĩ đã diễn hơn 200 vở cải lương. Đến nay, dù không còn thường xuyên biểu diễn cùng nhau, họ vẫn là đôi bạn thân thiết.

NSƯT Vũ Linh – Tài Linh

Vũ Linh sinh năm 1958 tại TP.HCM và được mệnh danh “Ông hoàng cải lương Hồ Quảng”. Nghệ sĩ ghi dấu ấn qua nhiều tuồng hát như: Hòn vọng phuGiũ áo bụi đờiBức ngôn đồ Đại ViệtCô đào hátLương Sơn Bá…

Nữ nghệ sĩ Tài Linh sinh năm 1956 và ghi dấu ấn với công chúng qua những tác phẩm tân cổ giao duyên, vở cải lương tâm lý xã hội và tuồng cổ theo tích Trung Quốc như: Thần nữ dâng ngũ linh kỳ, Tình nữ duyên trăng, Chiêu Quân cống hồ

Đôi diễn viên trong vở “Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài”.

Vở diễn “ghép đôi” cho Vũ Linh – Tài Linh là Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài. Khi đó, Vũ Linh công tác ở đoàn Trần Hữu Trang, anh đề nghị trưởng đoàn – NSƯT Lê Thiện – mời Tài Linh về tăng cường. Đôi diễn viên lần đầu hợp tác tạo hiệu ứng tốt và nhanh chóng trở thành hiện tượng sân khấu với những buổi diễn cháy vé. Họ còn đóng cặp trong Bản tình ca còn đó, Không bán tình em, Thần Nữ dâng ngũ linh kỳ

Thập niên 1990, hai nghệ sĩ nổi lên thành kép nam – nữ chính đắt show nhất nhì sân khấu cải lương. Trong cuộc bình chọn “Đôi nghệ sĩ diễn chung sân khấu được yêu thích nhất” của một tờ báo năm 2002, Vũ Linh – Tài Linh xếp hạng nhì (chỉ đứng sau cặp Minh Vương – Lệ Thủy).

Người hâm mộ “song Linh” đều mong họ sẽ thành tình nhân ngoài đời. Tuy nhiên, đôi nghệ sĩ chỉ xem nhau là bạn tâm giao trong cuộc sống lẫn nghệ thuật.

Năm 2003, nghệ sĩ Tài Linh định cư cùng gia đình tại Mỹ. Khán giả tỏ ra luyến tiếc khi không còn thấy họ đứng chung sân khấu. Tháng 4/2011, chương trình Đêm Vũ Linh hội ngộ Tài Linh diễn ra tại Rạp hát Thủ đô (TP HCM). Hai nghệ sĩ diễn trích đoạn cải lương Xử án Bàng Quý Phi trong sự hưởng ứng nhiệt thành từ khán giả.

NSƯT Minh Thành – NSƯT Thanh Thanh Hiền

Thanh Thanh Hiền và Minh Thành sinh ra tại Hà Nội. Nam nghệ sĩ sinh năm 1954. Thanh Hiền kém Minh Thành 15 tuổi.

Gia đình không có truyền thống nghệ thuật nhưng vì say mê cải lương, Minh Thành đi thi và trúng tuyển vào Đoàn Cải lương Nam bộ (Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang bây giờ). Năm 1976, ông về Đoàn Cải lương Bắc (nay là Nhà hát Cải lương Việt Nam) làm việc. Giữa những năm 80 của thế kỷ trước, Minh Thành sóng đôi Thanh Thanh Hiền trở thành cặp nghệ sĩ của Nhà hát tạo dấu ấn đậm nét trong lòng công chúng.

Cặp nghệ sĩ Thanh Thanh Hiền (trái) – Minh Thành trong “Chuyện tình hai kẻ thù” năm 1994.

Lần đầu cặp nghệ sĩ song ca trong nhạc phẩm Cô gái tưới đậu ở tình thế bất đắc dĩ. Ngày đó, Thanh Thanh Hiền thuộc lớp diễn viên trẻ. Trong chuyến biểu diễn tại Hữu Lũng (Lạng Sơn), diễn viên đóng cặp cùng Minh Thành nghỉ đột xuất. Theo sự điều động, nghệ sĩ sang đoàn một để hòa giọng cùng Thanh Thanh Hiền trong tiết mục văn nghệ. Minh Thành kể: “Diễn với Hiền quả thực tôi rất lo vì cả hai chưa hát chung bao giờ. Hai chú cháu ngồi trên ôtô tranh thủ tập thoại một lần rồi lên sân khấu diễn luôn”.

Đến giờ, Minh Thành vẫn còn cảm giác rợn người vì bất ngờ trước khả năng ứng biến, ăn khớp trong từng động tác của Thanh Thanh Hiền. Từ đấy, hai người bắt cặp trong các vở Đôi dòng sữa mẹ, Biển tình cay đắng, Chuyện tình hai kẻ thù… Nam nghệ sĩ nói: “Chúng tôi diễn ăn ý đến mức khán giả gọi điện đến Đài tiếng nói Việt Nam hỏi tôi và Thanh Thanh Hiền có phải vợ chồng ngoài đời. Về sau, tôi phải đính chính chúng tôi là bạn ca, đời thường xưng hô chú cháu”.

Đầu những năm 2000, khán giả không còn thấy cặp nghệ sĩ đứng chung sân khấu do Thanh Thanh Hiền chuyển công tác sang Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long. Tuy nhiên, với Minh Thành, dù đóng cặp với rất nhiều nữ nghệ sĩ, Thanh Thanh Hiền là bạn diễn ăn ý chưa ai đủ khả năng thay thế.

NSƯT Kim Tử Long – NSƯT Ngọc Huyền

Kim Tử Long sinh năm 1966 trong gia đình có bốn anh, chị em tại TP HCM. Ngọc Huyền kém Tử Long bốn tuổi. Hai nghệ sĩ chơi với nhau từ nhỏ và học chung lò dạy thanh nhạc của nghệ sĩ Út Trâm. Sau đó, cả hai học ở trường Trần Hữu Trang.

Đôi diễn viên trong vở “Xử án Phi Giao”.

Những năm 90 của thế kỷ trước, Kim Tử Long – Ngọc Huyền trở thành một trong những cặp nghệ sĩ cải lương diễn ăn ý nhất. Năm 1994, cặp Ngọc Huyền – Kim Tử Long đoạt giải “Đôi diễn viên được yêu thích nhất năm”. Kim Tử Long từng chia sẻ không ai có thể thay thế vị trí của Ngọc Huyền đối với anh. Sau khi Ngọc Huyền sang Mỹ định cư, anh hẫng hụt vì mất đi người bạn diễn tri kỷ. Cả hai đều cố gắng tìm bạn diễn khác thay thế chỗ trống của nhau trên sân khấu nhưng không thành công vì khán giả luôn chỉ thích Tử Long – Ngọc Huyền tung hứng bên cạnh nhau.

Vừa qua, Kim Tử Long giúp Ngọc Huyền dựng vở Xử án Phi Giao với chi phí đầu tư lên đến 700 triệu đồng.

Cuộc đời nghệ sĩ cải lương Mỹ Châu lên sách

“Châu, chút tạ tình tri âm” là bút ký chân dung lần đầu ra mắt về một trong những ngôi sao của thế hệ vàng cải lương Việt Nam.

Tìm hiểu thêm cuộc đời và sự nghiệp NSUT cải lương Mỹ Châu

Cuốn sách như bộ phim âm bản mở đầu qua cảnh một đêm khuya vắng lặng ở thành phố Atlanta (Mỹ), nơi nhân vật chính – nghệ sĩ Mỹ Châu – trằn trọc, khẽ khàng lui tới trong nhà, tự đếm những bước chân của mình. Trong khung cảnh ấy, những hồi ức, nhớ nhung của cuộc đời một cô đào hát vang bóng một thời được tái hiện.

Nghệ sĩ kể câu chuyện đời mình bằng giọng văn thủ thỉ, tâm tình, như thể dẫn người đọc cùng bà trở về ngồi giữa sông nước mây trời miền Tây, lắng nghe ngôi sao nhí Mỹ Châu cất vang giọng ngân bài vọng cổ thắm đượm tình quê. Cô bé ấy tỏa sáng ở quê nhà từ năm bảy tuổi, 14 tuổi làm đào chánh ở Sài Gòn, 17 tuổi gần như trở thành triệu phú khi có thể sắm xe hơi, xây nhà lầu dễ như chơi cũng nhờ danh vọng từ nghề hát. Không chỉ tập trung vào cận cảnh cuộc đời nghệ sĩ Mỹ Châu, sách còn giúp người đọc hình dung những lát cắt về sân khấu cải lương đầy thăng trầm qua hồi ức về những tên tuổi quen thuộc như nghệ sĩ Út Bạch Lan, Thành Được, Minh Cảnh, Hùng Cường, Minh Phụng, Thanh Tuấn…

“Câu chuyện trường thiên về một thời khi cải lương là nguồn sống tinh thần của hàng triệu dân Việt từ nơi phố thị đến chốn thôn quê. Câu chuyện buồn vui theo vận nước tình người nổi trôi mà Mỹ Châu đã dịu dàng kể lại với tôi. Tôi thấy mình bất lực khi muốn dùng chữ nghĩa để diễn tả”, tác giả Thanh Thủy – người chấp bút cuốn sách – chia sẻ.

Hai lối mộng

NSUT Mỹ Châu và NSUT Trọng Phúc trong tác phẩm Hai lối mộng

Nghệ sĩ Mỹ Châu, tên thật là Nguyễn Thị Mỹ Châu, sinh năm 1950 tại Thủ Thừa, Long An. Với chất giọng trầm đặc biệt, vẻ đẹp đậm chất Á Đông, bà được mệnh danh là ngôi sao của thế hệ vàng cải lương Việt Nam, cùng thời nghệ sĩ Bạch Tuyết, Lệ Thủy, Ngọc Giàu, Phượng Liên, Minh Vương,… Mỹ Châu bước chân vào làng sân khấu từ năm 11 tuổi qua các đoàn như Tiếng Chuông, Út Bạch Lan – Thành Được, Thủ Đô, Kim Chung 1 và 2, Thái Dương, Thanh Nga, Hương Biển… Bà nổi tiếng qua các vở tuồng như: Hai lần thu hẹn, Trinh nữ lầu xanh, Khi rừng mới sang thu, Kiếp nào có yêu nhau, Bên cầu dệt lụa, Tiếng trống Mê Linh, Khách sạn hào hoa…Mỹ Châu từng diễn chung với Minh Cảnh, Thành Được, Minh Phụng, Minh Vương…

NSUT Mỹ Châu thời trẻ

Sau năm 2002, nghệ sĩ Mỹ Châu sang Mỹ để toàn tụ với gia đình (chồng bà là nghệ sĩ Đức Minh đã sang Mỹ từ trước). Bà sống tại tiểu bang Georgia và từ chối mọi lời mời đi hát. Trước khi ra đi, Mỹ Châu tạm biệt khán giả qua hai vở tuồng gây tiếng vang là Võ Tắc Thiên (sân khấu) và Tơ Vương Sầu Ly Biệt(Hãng phim Tây Đô). Bà nhận Huy chương vàng triển vọng Thanh Tâm vào năm 1967, danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú vào năm 1993. Huy chương Vì sự nghiệp sân khấu Việt Nam 1999.

Nguồn: An Sơn/ giải trí Vnexpress

Tìm bài hát này:

  • mỹ châu nghệ sĩ
  • nghe si cai luong my chau

“Lão tướng Tuồng” Mịch Quang ra đi ở tuổi 100

Nhà nghiên cứu, soạn giả Mịch Quang đã từ trần vào 18h15 ngày 14.2.2018, hưởng thọ 100 tuổi. Mịch Quang được giới sân khấu trân trọng coi ông là “Lão tướng” của ngành Tuồng , ông đã vinh dự được Đảng, Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT năm 2017 với hai tác phẩm:Đặc trưng nghệ thuật Tuồng và Khơi nguồn mĩ học dân tộc.

Nhà nghiên cứu, soạn giả Mịch Quang tên thật là Nguyễn Thế Khoán, sinh năm 1917 trong một gia đình yêu nước dòng dõi khoa bảng ở Bình Định, mảnh đất “địa linh nhân kiệt” nơi phát tích của vị anh hùng dân tộc Quang Trung và danh nhân văn hóa Đào Tấn. Kháng chiến chống Pháp, ông là cán bộ tuyên văn trung đoàn 94 ở Liên khu 5. Từ năm 1954, tập kết ra Bắc, Mịch Quang hoạt động trên nhiều lĩnh vực VHNT. Ông đã sớm tiếp thu được những tinh hoa văn hoá truyền thống của quê hương, sau bao nhiêu năm học tập, lao động sáng tạo không mệt mỏi, nhà nghiên cứu, soạn giả Mịch Quang đã có nhiều đóng góp có giá trị trên 2 lĩnh vực: nghiên cứu và soạn giả sân khấu. Ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất năm 1999, Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001.

Ông là soạn giả có nhiều vở Tuồng và Cải lương nổi tiếng như: Giảm tô, Má Tám, Trần Hưng Đạo, Áo vải cờ đào, Phất cờ nương tử, Thanh gươm hát bội…  Các công trình nghiên cứu của ông: Âm nhạc và sân khấu kịch hát dân tộc được Giải thưởng Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam năm 1995, Đặc trưng nghệ thuật Tuồng được Giải thưởng Ủy ban Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 1996, Khơi nguồn mỹ học dân tộc”, “Kinh dịch và nghệ thuật truyền thống và hơn 80 tiểu luận đăng trên các tạp chí… từng bước hiện thực hóa khát vọng xây dựng cho được hệ thống lý luận cơ bản của nghệ thuật dân tộc, phục vụ cho việc nghiên cứu, bảo tồn và phát triển nghệ thuật dân tộc. Mịch Quang là một trong những người mở đường, đặt những viên gạch đầu tiên và đạt được những thành tựu quan trọng xây dựng sân khấu học, nghệ thuật học truyền thống. Ông cũng là người đầu tiên giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp của danh nhân văn hóa Đào Tấn và trong suốt nửa thế kỷ qua vẫn tiếp tục có những công trình nghiên cứu sâu sắc về Đào Tấn – nhà yêu nước, nhà hoạt động sân khấu kiệt xuất, một nhà thơ lỗi lạc của dân tộc.

Cho đến nay, nhiều phát hiện, khám phá về nghệ thuật truyền thống dân tộc của Mịch Quang đã trở thành tài sản chung của giới nghệ thuật học dân tộc. Các khái niệm như “hiện thực tả ý”, “phương pháp mô hình hóa”, “sân khấu tổng thể tích hợp”, “tự sự kịch tính trữ tình”, “cấu trúc động mở” hay các phạm trù mỹ học dân tộc như “cái hùng”, “cái hậu”, “cái nhu” do Mịch Quang tổng kết đã được các nhà nghiên cứu nghệ thuật dân tộc có uy tín như GS Hoàng Châu Ký, GS.NSND Trần Bảng, GS Hồ Sĩ Vịnh, PGS.TS Tất Thắng, GS.TS Nguyễn Thuyết Phong, GS.TS Trần Văn Khê… cùng nhiều nhà nghệ thuật học thế hệ sau vận dụng và phát triển.

Thành công nổi bật nhất trong sự nghiệp sáng tác của Mịch Quang là tác phẩm Kinh dịch với nghệ thuật truyền thống (Sân khấu – Âm nhạc – Mỹ thuật) được Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001. Hàng chục các tác phẩm vừa nghiên cứu khoa học, vừa sáng tác nghệ thuật, vừa nêu lên những kinh nghiệm quý báu của mình từ bao năm gắn bó với sân khấu của ông như chuyên luận xuất sắc về danh nhân Đào Tấn, về âm nhạc Cải lương, Bài chòi, về mỹ thuật dân tộc, những kịch bản sân khấu Kịch thơ, Tuồng, Cải lương được đánh giá cao…

Thực tiễn nghiên cứu sáng tác và biểu diễn nghệ thuật dân tộc hiện nay đang đặt ra những vấn đề bức xúc trong việc bảo tồn và phát huy vốn nghệ thuật của cha ông để lại. Trong tình hình đó, những công trình nghiên cứu và sáng tác của nhà nghiên cứu, soạn giả Mịch Quang càng thêm có ý nghĩa và giữ nguyên giá trị thời sự, bổ ích cho những người đang hoạt động nghệ thuật dân tộc hôm nay. Thật may là trước ngày Mịch Quang mất, Hội Nghệ sĩ Sân khấu VN đã phối hợp với gia đình, đồng nghiệp để tổ chức Lễ mừng thọ và Hội thảo “100 năm Nhà nghiên cứu, soạn giả Mịch Quang” đã có những đánh giá khoa học về những công lao đóng góp trong sự nghiệp của ông đối với ngành nghệ thuật dân tộc. Tang lễ nhà nghiên cứu, soạn giả Mịch Quang được tổ chức vào ngày 21.2.2018 (tức ngày 6 tháng Giêng âm lịch) tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội.

“Những kịch bản của nhà nghiên cứu, soạn giả Mịch Quang sáng tác từ ngôn ngữ đến cấu trúc, hình tượng nhân vật được ông đầu tư rất công phu, đặc biệt là nhân vật người phụ nữ. Điểm mạnh của Mịch Quang là ông biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa những mảng miếng, trò diễn của Tuồng truyền thống như Thượng thành, Qua ải, Ngũ biến… để nâng lên làm bà đỡ cho các lớp trò”.
(NSND Lê Tiến Thọ, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam)

 ​”Tôi đã tìm thấy cảm hứng và thích thú, kính phục “lão tướng Tuồng” Mịch Quang trong suy nghĩ, lý giải những vấn đề “hóc búa” ở mỗi công trình. Cũng vì các công trình của ông từ lý luận đến các vở tuồng đều mang tính phản biện rất cao và luôn là người phát hiện vấn đề. Đây chính là yếu tố quan trọng đã đưa Mịch Quang thành “đại bút” trong ngành nghiên cứu nghệ thuật sân khấu Việt Nam hiện đại”.

(PGS.TS Trần Trí Trắc)

 

 

Nguồn: Theo Đào Anh  vanhoaonline.vn

Vĩnh biệt danh hài Văn Chung: Tiếng cười dễ nhớ, khó quên

Nghệ sĩ Văn Chung – bậc cao niên mà các nghệ sĩ của nhiều lĩnh vực đều kính trọng – đã trút hơi thở cuối lúc 23h ngày 22-1 theo giờ địa phương tại tiểu bang California, Mỹ, hưởng thọ 91 tuổi.

Tôi còn nhớ như in cuộc điện thoại cuối cùng ông gọi cho tôi cách đây hai tháng. “Tôi khỏe lắm, giờ chỉ lo cho vợ, bà bị mất trí nhớ, nên thay đổi tất cả sinh hoạt thường nhật. Thương hơn là bà ấy cứ nhắc tôi đi hát, trễ tuồng rồi kìa. Tôi ứa hai hàng nước mắt…” – ông cười nhưng rồi nghẹn.

Nghệ sĩ Văn Chung và Thanh Thanh Tâm trong vở Đời cô Lựu
diễn tại Mỹ 

Nghệ sĩ Văn Chung tên thật là Quách Văn Chung, sinh ngày 21-9-1927 tại Sài Gòn. Ông đến với nghề từ một khao khát được làm anh kép hát, bởi ông có giọng ca rất mùi.

Sau khi chuyện tình duyên của ông với nghệ sĩ Thanh Hương tan rã, ông buồn rời khỏi gánh hát của cha vợ là NSND Năm Châu để tìm một hướng đi mới.

Thời đó nợ nần tứ xứ vì đi hát không có đoàn nào nhận, rồi quyết định rẽ sang một sở trường khác, đó là thử vận may làm hề. Ông nghiên cứu cách diễn để hình thành phong cách hề té, hề dê, hề sợ ma…

Những khuôn mẫu này cho tới hôm nay vẫn được một số diễn viên hài trẻ ứng dụng, thu lượm từ kinh nghiệm diễn xuất của Văn Chung.

“Tôi bước chân vào làng hài, học hai bậc sư tổ, đó là bác bảy Văn Chung và anh sáu Bảo Quốc, nên tôi ghép hai nghệ danh của hai sư phụ thành nghệ danh của mình” – danh hài Bảo Chung khóc khi nhắc đến người thầy mà anh tôn kính.

Phong cách diễn xuất của ông được giới chuyên môn đánh giá là thượng thặng trong giới nghệ thuật cải lương.

Đi lên từ những vất vả, khổ nhọc, ông nói: “Tôi học khóc trước khi học cười, nên vai nào tôi cũng suy nghiệm phía tận cùng sâu thẳm của tính cách nhân vật”.

Chính vì thế khi tôi sang Mỹ, câu đầu tiên ông nhờ tôi gửi đến các diễn viên trẻ đang diễn hài, đó là đừng quá chạy theo hình thức gây cười mà phải đi vào bên trong sâu kín tâm hồn của nhân vật, tình huống giúp tạo tiếng cười mỹ học, trí tuệ, chứ không phải cố diễn kệch cỡm mà khán giả sẽ nhớ đến tiếng cười của mình.

Ông nói kỳ vọng nhiều vào lớp trẻ và cũng cần thay những ngọn roi để phạt cái tật xem thường khán giả, ỷ tài, ỷ danh mà không vun vén cho nghề.

Ông cũng không quên kể đến một thất bại lớn nhất đời mình, đó là một lần ông đọc báo biết tin một người thiếu phụ vì bất cẩn đổ xăng trong nhà mà chồng chết, người vợ thoát chết nhưng bị công chúng lên án.

Tối đó diễn vở Tuyệt tình ca, ông cương thêm theo câu thoại không có trong kịch bản: “Em đồng ý cưới anh nha, dù em có đốt anh chết anh cũng chấp nhận”. Khán giả cười nghiêng ngả qua nhiều suất diễn ông “ứng biến”.

Tan suất diễn một ngày không xa, ông ra về thì gặp một phụ nữ mặc bộ đồ đen đứng đợi ông ở cửa rạp Hưng Đạo. Cô là nhân vật bị lên án trong bài báo, cô khóc và nói: “Thưa nghệ sĩ, tôi đâu có cố ý giết chồng mình.

Cái ngu của tôi sẽ là cơ hội để người khác không gây án, nhưng đêm nào nghệ sĩ cũng cười tôi, còn tôi khóc cả đêm thì nghệ sĩ có đau cùng nỗi đau của tôi không?”. Ông nghe qua câu chuyện, biết mình có lỗi, đã xin lỗi người thiếu phụ và từ suất diễn sau, ông không đề cập đến câu thoại đó nữa.

Nhân cách của nghệ sĩ Văn Chung chính là biết lỗi thì nhận và sửa chữa. Ông nói nghệ sĩ phải chịu áp lực từ công chúng, thương ghét rõ lắm. Sự tác động đó như những cây đũa bào sắc nhiều góc cạnh để viên ngọc ngày càng sáng hơn.

Thắp nén hương vĩnh biệt danh hài Văn Chung – cây đại thụ của sân khấu cải lương, tôi tin khán giả sẽ không bao giờ quên những vai diễn, tiếng cười dễ nhớ khó quên mà ông đã sáng tạo cho đời.

“Tôi nhớ sân khấu và bà con khán giả mình lắm”

Nghệ sĩ Văn Chung chuyển sang diễn hài giữa thập niên 1960. Sự nghiệp nghệ thuật của danh hài Văn Chung được nhắc đến với các vai diễn được ông khắc họa ấn tượng trong các vở: Tuyệt tình ca, Tìm lại cuộc đời, Khách sạn Hào Hoa, Tiền rừng bạc biển, Gái bán bar, Thảm kịch tuổi xanh… Ngoài ra, nghệ sĩ Văn Chung cũng thành công khi tham gia đóng những vai hề trong những bộ phim như: Lệnh bà xã, Triệu phú bất đắc dĩ, Chàng ngốc gặp hên, Con ma nhà họ Hứa…

Bảy năm qua, mỗi tuần ông đều lái xe đưa vợ đến sân khấu Cổ nhạc phương Nam, nơi ông đã cùng các nghệ sĩ Phượng Liên, Tuấn Châu, Ngọc Đáng, Thanh Thanh Tâm, Philip Nam, Cẩm Thu, Linh Tâm… gầy dựng sân chơi đờn ca tài tử.

Trong các câu chuyện ông kể, lúc nào cũng mong có một dịp được quay về với sàn diễn trong nước thực hiện một suất hát tri ân khán giả mộ điệu, nhưng căn bệnh tim có gắn con chip bên trong không cho phép ông đi máy bay.

“Có viết báo nhắc tới tôi, xin nói thêm vài câu cáo lỗi khán thính giả, tôi nhớ sân khấu và bà con khán giả mình lắm” – ông khóc. 

Nguồn: Theo Đạo diễn Thanh Hiệp / tuoitre.vn