10 bài hát chầu văn, hầu đồng hay nhất

Ảnh minh họa, nguồn: Internet.

Cung văn đóng vai trò quan trọng trong hầu đồng. Một vấn hầu đồng phục vụ tín ngưỡng thờ cúng đạo thánh Việt Nam được coi là thành công, có màu “nhang khói, thần thánh” khi và chỉ khi từ người hành lễ cho tới lễ nhạc chầu văn (cung văn) cùng những người phục vụ (đồng phò) có sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn. Dưới dây là sưu tầm những bài hát chầu văn, hầu đồng hay nhất.

1. Bản văn Sự tích Bát Tràng Bản Hương Thánh Mẫu

Vị thánh được dân gian đồng hóa với Mẫu Đệ Tứ – Chầu Đệ Tứ của tín ngưỡng tứ phủ.

Bát Tràng danh hương chốn quê nhà

Mỹ Tín Thiên Tiên vốn Hằng Nga

Giáng sinh vào Đồng Tâm Trần Thị

Gái Bát Tràng uyên nhàn thùy mị

Nét dịu dàng từ ý đoan trang

Mậu Thìn năm đó giáng phàm

Trần Đồng Tâm vốn là Vương Phụ

Trần Đông Cục đích thị Mẫu Vương

Đức Vương Phụ vốn là Thần dược

Được tặng phong chức Phủ Hiệu Sinh

Đức Vương Mẫu cũng dòng vinh hiển

Là con gái Vệ Thần Sách triều Lê

Khi giáng phàm Ngài là quyền quý

Dòng Trâm anh cái thế gần xa

Tiết trung, hiếu nghĩa, thật thà

Công dung ngôn hạnh lại là Phật tâm

Danh thơm nức tiếng xa gần

Nhà nhà đều muốn kết tình thông gia

Ngày Hai Tư Chầu bà hiển hóa

Ất Dậu Tháng Chín Chầu về cõi tiên

Bách Nhật nội ngày đêm biến hiện

Lúc dạo chơi Đồng Phú, Đồng Tài

Có khi lại lễ Chùa Kim Trúc

Lúc quay ra Đồng Mỹ, Đồng Tâm

Rồi Đồng Lộc, cây đa Bà Cận

Khi ngự thuyền Long Nhỡn dạo chơi

Khi dạo mát bến đò Ba Đậu

Trở ra về lễ Phật Bảo Minh

Có khi bái yết cửa Đình

Dâng hương bái đảo Thành Hoàng sáu ngôi

Khắp dân làng lấy làm linh hiển

Bèn rủ nhau cầu đảo dâng hương

Nhiệm màu thay tâm cầu sở đắc

Khắp xa gần kéo dến dâng hương

Truyền tai nhau hiển ứng thần linh

Dấu chân hạc còn lưu hương đỉnh

Đức Đồng Tâm chẳng nỡ xa con

Mang thân ngọc hóa thành tro cốt

Chia trăm phần theo gió tán đi

Giữ một phần táng nơi cổ tự

Chùa Tiêu Giao bên xã Đông Cao

Núi Thiên Thai mây bay gió cuốn

Cốt tới đâu tôn kính lập đền

Bảy hai làng Gia Bình Siêu Loại

Tỉnh Bắc Ninh các xã phụng thờ

Năm Khải Định Tứ Tuần Đại Khánh

Sách tặng phong ân thánh giáng trần

Vua ban sắc chỉ phong thần

Trang huy dực bảo trung hưng Thượng Đẳng

Chuẩn cho dân xã phụng thờ

Hưng công xây sửa linh từ khang trang

Làng Bát Tràng tháng Chín mở hội

Ngày Hai Tư đản hóa Mẫu Bản Hương

Lòng thành kính hương hoa tịnh thủy

Hóa phép màu lục trí thần thông

Tốc lai giáng hạ từ trung

Ngôi đền cổ kính bên sông Nhĩ Hà

Ngôi đền tối tú tối linh

Khuông phù đệ tử khang ninh thọ trường

2. Cậu Quận Sòng Sơn Văn

Bản văn này nói về Thánh Cậu ( được thờ ở Sòng Sơn ) Trong hệ thống Tứ phủ , được sử dụng khi hầu giá này.

Vầng đông mãn bóng dương vời vợi

Soi vườn hồng choi chói nhân gian

Vốn xưa chầu chực đền vàng

Vào ra cửa Mẫu sửa sang một Hoàng

Trên ngọc bộ chén vàng tay lỡ

Xuống trần gian vào cửa dân ngay

Điều lành ứng mộng khôn thay

Bào thai đủ tháng mười ngày sinh ra

Khác người ta long hành hối bộ

Ấn tam đình lồ lộ nở nang

Dung nghi tính hạnh phi thường

Ngọc lành vàng tốt yêu đương chẳng rời

Phút nghe thấy trên trời chiếu chỉ

Rước Hoàng về thượng đế tiên cung

Xe loan gió lọt bụi hồng

Cành huyên duy phút mộng xuân rầu rầu

Chốn hồng lâu trong lòng phỉ ngộ

Chạnh nghĩ là cậu ở xứ Thanh

Sòng Sơn thượng đẳng anh linh

Trời Nam tú khí địa danh đâu bằng

Duy nghìn thu tặng phong choi chói

Cửa linh từ nhang khói ngàn thu

Chầu rồi cậu lại ngao du

Đồi Ngang phố Cát kinh đô thị thành

Áo cánh xanh phất phơ lòng đỏ

Quần hoa hiên vòng cổ vòng tay

Khăn đào cậu đội xinh thay

Vai mang túi gấm chân giày rong chơi

Cậu Hoàng ba bảy tuổi xanh

Miệng cười hoa nở mọi hình mọi xinh

Chân đá cầu đồng trinh đánh đáo

Tay quạt tầu hảo tố báo tiền

Cậu Hoàng be bé hạt tiêu

Bé xinh bé đẹp vua yêu Mẫu dùng

Các chầu cô khăn hồng áo thắm

Bóng cậu Hoàng càng ngắm càng say

Dăm ba dắt díu dang tay

Nhác trông cậu quận thực thay hữu tình

Hát tiếng kinh líu lô vui vẻ

Cậu Quận Hoàng tươi đẹp thanh tân

Trẻ già nam nữ xa gần

Cậu Hoàng chơi đó mười phần ngồi xem

Hoặc ai phải sương thu nắng hạ

Cậu ban cho nước lã tàn nhang

Ra tay chuyển bệnh trần gian

Trừ tai tống ách bình an tức thời

Tấu văn mời cậu ban tài lộc

Cho trong nhà ngũ phúc lâm môn

Đền thờ chúa vị thánh tôn

Anh linh thiên cổ trường tồn muôn thu

Đệ tử tôi khói hương phụng sự

Dốc một lòng sớm tối dám sai

Thỉnh Cậu giá ngự đền đài

Phù hộ đệ tử đời đời bình an

3. Văn bài sai Mười hai cô

Bài sai thập nhị tiên nàng

Cô nào việc ấy sửa sang theo hầu

Cô cả pha nước trà tầu

Thế là vừa ý gật đầu ban khen

Cô đôi dâng bộ khay đèn

Xe ngà diện sứ móc tiêm bằng vàng

Cô bơ dâng hộp thuốc nam

Thế là vừa ý ông hoàng sơn lâm

Cô tư đốt đỉnh nhang trầm

Ngọn đèn khêu tỏ tay cầm móc tiêm

Cô năm dâng hộp bánh nguyên

Kẹo xìu thuốc lá cảnh tiên ai bì

Cô sáu tính nết nhu mì

Dâng con ngựa xám ông đi chấm đồng

Cô bảy nẩy khúc đàn thông

Ngày ngày hầu hạ vào ra sớm chiều

Cô tám dâng chiếc lược ngà

Đôi tay chải chuốt thật là khéo thay

Cô chín yểu điệu ai tầy

Tiên cô dâng 1 đôi giầy hầu ông

Cô 10 thắt dải lưng hồng

Canh ba giờ tí đèn lồng bước ra

Cô 11 quạt nước pha trà

ấm tiên bình ngọc tay ngà dâng lên

Cô 12 múa lượn xênh tiền

12 tố nữ hầu giá đôi bên rõ ràng

4. Cậu thả lưới

Ba quân nghe lệnh cậu truyền

Thuyền bè neo cọc các miền đông tây

Lưới thần la liệt bủa vây

Thuỷ binh cơ đội vào ngay kíp liền

Chân mây mặt nước vô biên

Lưới thần chăng khắp các miền hải đông

Tôm he cá mực tôm rồng

Đều sa vào lưới trùng trùng như muôn

5. Cậu bé Hoàng

Hát dọc:

Cậu Hoàng giục ngựa qua sông

Mồ hôi nhỏ giọt, thương đồng phải theo

Thương đồng mấy núi cũng trèo

Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua

Đường trường ngàn dặm suối khe

Sông sơn, phố cát lại về đền Dâu

Trần gian trẩy tội gần xa

Cậu Hoàng trẩy hội hoa xuân tưng bừng

Tấu cho phật thánh mười phương

Thanh đồng đệ tử tựa nương tuổi già

(Làm lễ xong ngự tọa)

6. Văn Cô Bé Hòa Bình

(Bản này được sử dụng hát trong giá hầu Chầu Thác Bờ )

Ai lên cảnh đẹp Hoà Bình

Thác Bờ phong cảnh hữu tình biết bao

Dải sông Đà rì rào sóng vỗ

Cảnh núi rừng cây phủ màu xanh

Anh linh cô bé Hoà Bình

Thác Bờ cô ngự một mình trông coi

Sử Lê triều sáng soi nữ kiệt

Giặc bạo tàn phải khiếp uy linh

Chiếc thoi vượt thác một mình

Mênh mông sóng vỗ ấm tình nước non

Trăng khuyết thì trăng lại tròn

Người Mường sống với nước non muôn đời

Cô cứu người bằng thoi Tam Bảo

Dắt dân bằng đuốc sáng thần tiên

Cô đi dáng điệu dịu hiền

Cong cong nét liễu cài trên sóng tuyền

Vẻ thanh tú hiện trên nền ngọc

Nét thu ba mái tóc vờn mây

Đoan trang vẻ mặt hây hây

Khăn xanh áo trắng vẻ đầy thần tiên

Mênh mông sóng nước hò khoan

Chơi vơi tượng đá hiện lên giữa dòng

Đêm thanh vắng thuyền rồng cô ngự

Lá cờ thần thêu chữ vàng tươi

Mênh mang một dải khoan bơi

Chở quân chính nghĩa thoát nơi hiểm nghèo

Nước Đại Việt Lê Triều khai mở

Phong cô là liệt nữ anh hùng

Có công được tặng chữ chung

Có cô bé Thác được phong thể vàng

Từng vượt núi băng ngàn mở lối

Giúp dân lành sớm tối nên công

Bao năm đục núi khơi dòng

Đem dòng nước ngọt mát từng đồi nương

7. Văn Cậu Quận Phủ Dầy

Bản văn này nói về Thánh Cậu ( được thờ Phủ Dầy ) trong hệ thống Tứ Phủ

Lòng tin tiến một cơi trầu

Dâng bản văn chầu thỉnh Cậu về đây

Cậu xưa vốn ở Phủ Dầy

Chầu chực đêm ngày hầu hạ vào ra

Cậu Hoàng mới độ lên ba

Hình dung sắc thái thật là xinh thay

Đầu đội nón chân đi giày

Áo xanh khăn đỏ vòng tay quạt tàu

Khi chầu thượng đế khấu đầu

Khi trở về chầu thánh mẫu thuỷ cung

Thấy ai thờ phụng có lòng

Cậu về giá ngự điện trung chơi bời

Cậu thời có sắc có tài

Khắp hết điện đài đâu chẳng ngự chơi

Ai thời sạch sẽ tốt tươi

Sửa sang lịch sự đến nơi tức thì

Cậu nay tính hạnh nhu mì

Hình dung nhan sắc mọi bề mọi hay

Lại xem phong cảnh mọi nơi

Đài kia giá nọ rong chơi phố phường

Miệng cười hoa nở phi phương

Khăn hồng cánh cánh rõ ràng thực xinh

Thấy đâu vui thú hữu tình

Cậu về giá ngự như hình thần tiên

Vốn xưa cậu ở giang biên

Con vua thuỷ tế giáng miền nhân gian

8. Văn Cô Cả

Bản văn này nói về cô Đệ Nhất trong hệ thống tứ phủ , được sử dụng hát hầu giá cô Đệ nhất khi lên đồng

Dưới Động Đình hoa rơi lai láng

Cửa rèm châu thấp thoáng bóng trăng

Đời Lê Thái Tổ trung hưng

Anh linh ra sức Liễu Thăng hàng đầu

Lệnh khoa màu theo quan sứ giả

Chọn ngày lành giáng hạ thần tôn

Ra vào ngọc điện kim môn

Danh thơm ngoài cõi tiếng đồn trong cung

Đức Mẫu Vương có lòng quảng đại

Phong cô làm công chúa thiên cung

Ngọt ngào nổi dấu thiên hương

Phấn son chải chuốt áo vàng trai lơ

Bậc thần nữ phong cô nhan sắc

Vẻ khuynh thành nhất mực trần gian

Hây hây má phấn tựa hương

Mặt hoa đầy đặn trán vuông cgữ điền

Vẻ thiên nhiên hình dung tầm thước

Gót hài hoa càng bước càng xinh

Đã nên quốc sắc khuynh thành

Mày ngang bán nguyệt rành rành tựa hoa

Áo mớ ba chân hài mỏ phượng

Lwợc đồi mồi nhẫn ngọc luồn tay

Gương soi phấn điểm nào tày

Cổ đeo chàng mạng đôi tai hoãn vàng

Nét dịu dang lại càng vinh hiển

Giá ngự đồng phán chuyện các nơi

Thông chi dưới bể trên trời

Lầu son phủ tía cô ngồi thảnh thơi

Lúc nhàn hạ lên chơi tỉnh Bắc

Kén được đồng nhan sắc nết na

Thiên triều bồng báo trải qua

Quỳnh Lôi thẳng tới Thổ Hà Vạn Vân

Trải phủ Thuận qua đền Dâu Khám

Tới đền Ghềnh xuống trạm Hoàng Mai

Có phen đi hán đi hài

Qua đền Cổ Vũ Hàng Gai Hàng Bè

Trở ra về Hàng Buồm Phố Khách

Gặp Minh hồng khúc khích cười reo

Rong chơi Cầu Gỗ Hàng Đào

Trở về Hàng Bạc lại vào Phúc Tân

Tháng hai hội đền Dầm đền Sở

Ninh xá từ Đại Lộ đức Ông

Nhởn nhơ đứng mũi thuyền rồng

Khuyên luyện thanh đồng chầu chực dâng hoa

Lại trở ra cô về đền Sét

Xuống Bạch Mai bái yết chùa Vua

Dạo chơi Trưng Trắc Hai bà

Đức Viên Hoà Mã ,lại ra Tây Hồ

Có phen dạo khắp thành đô

Qua phủ Tây Hồ về tới Chân Tiên

Mời Cô trắc giáng bản đền

Phù hộ đệ tử thiên niên thọ trường

9. Văn Cô Đôi Cam Đường

Bản 1:

Lòng thành thắp một tuần hương

Dâng văn sự tích Cam Đường tiên cô

Quê nhà ở đất xưa Đình Bảng

Dòng nối dòng buôn bán vải tơ

Cô quản gì nắng sớm chiều mưa

Cong cong đòn gánh sớm trưa cho đời

Nào tơ lụa vải sồi lĩnh tía

Đủ mặt hàng chẳng thiếu thức chi

Chiều chiều quảy gánh ra đi

Lung linh got ngọc quảy đi cho đời

Cô tới đâu hoa cười chim hót

Các bản làng nhẹ gót thênh thênh

Suối khe đồi núi gập ghềnh

Vải tơ đem đến ấm tình ngược xuôi

Dân đâu đấy nhớ người tiên nữ

Dáng thanh thanh mắt tựa sao sa

Thơm thơm tóc phượng dà dà

Hây hây má phấn da ngà lưng ong

Núm đồng tiền dáng trông ngọc thuyết

Nở nụ cười vẻ nguyệt in hoa

Khăn vuông đen thẫm đậm đà

Lưng đeo xà tích tai hoa bấm vàng

Áo đổi vai dịu dàng vạt thắt

Mối lưng bao nhiệm nhặt đường cong

Tư trời sánh với trăng trong

Công dung ngôn hạnh đức cùng thanh tao

Sở mãn hạn thiên tào bỗng gọi

Trở về trời để lại nhớ thương

Người tiên gửi đất Cam Đường

Dấu tiên để lại bốn phương phụng thờ

Thuở sinh thời vải tơ đem đến

Lúc về trời vẫn hiện đêm khuya

Canh ba quảy gánh đi về

Tay tiên hái quả trẩy huê cho đời

Sang canh tư dạo chơi các bản

Gọi chim rừng gợi sáng canh năm

Anh linh nức tiếng bốn phương

Có cô tiên nữ Cam Đường thiêng thay

Dân đâu đó đêm ngày nguỡng mộ

Đội ơn cô tế độ sinh nhân

Ban tài tiếp lộc xa gần

Kêu sao được vậy nhân dân ơn nhờ

Đoi đãy nải thủa xưa ghi lại

Cô Cam Đường tiếng mãi mai sau

Hôm nay dâng tiến văn chầu

Cung đàn tiếng hát đôi câu tâm thành

Cô về lai giáng điện đình

Xin cô bốn chữ khang ninh thọ trường

Bản 2

Gương tần tảo đời đời ghi nhớ

Chữ kiệm cần ví tựa vàng son

Trăm năm bia đá vẫn mòn

Cam Đường cổ tích miếu đường ngàn thu

Đường Quan Lộ ,chợ Dầu ,Đình Bảng

Có hai cô buôn bán tha hương

Đòn cong túi đẫy dịu dàng

Ngược xuôi thuận nẻo Cam Đường chợ xa

Hai túi đẫy lượt là nhiễu vải

Lụa tơ vàng sồi đũi hoa trơn

Hai vai nặng gánh càn khôn

Chàm xanh lĩnh tía nâu non vải sồng

Đường xa lắc mà lòng chẳng ngại

Giúp ngưòi đời có vải ấm thân

Niềm tin đồn đại xa gần

Cam Đường biên giới thổ dân nức lòng

Bỗng một buổi trời đông tuyết lạnh

Vai nặng nề quảy gánh non xa

Chiều hôm bóng đã xế tà

Núi non khuất khúc vào ra vắng người

Cô dừng bước bên đồi đỡ gánh

Biết đâu ngờ đã định mưu gian

Cường hung một lũ bạo tàn

Thẳng tay cướp của lại toan hại người

Âu cũng bởi số trời đã định

Nợ trần hoàn nhẹ gánh gian lao

Tinh linh trở lại thiên tào

Cam bề hoặc tử quyết liều hai thân

Ngàn cỏ hoa tần ngần rủ lá

Cảm thương người một dạ kiên trinh

Nỗi oan khuất thấu Thiên Đình

Mối xông cổ mộ rành rành bên non

Phép linh ứng hiện hồn đưa khách

Cứu cho người thoát ách cường hung

Độ người trên bộ dưói sông

Thuận buồm xuôi gió thong dong đi về

Khắp hương bản nhờ uy tế độ

Ai khẩn cầu phúc thọ tài danh

Cam Đường dựng miếu anh linh

Sở cầu như ý thời tình thế gian

Thưòng dạo cảnh Đông Cuông,Trái Hút

Đền Bảo Hà,Ngòi Hóp ,Lao Cai

Sông Thưong bẻ lái chèo bơi

Khi vào Rừng Cấm,khi chơi Làng Giàng

Khi chơi cảnh Hà Giang ,Bắc Mục

Thú lâm tùng rừng trúc rừng mai

Cam Đường quả ngọt hoa tươi

Lẵng hoa cô quảy trên vai nhịp nhàng

Thắt đai ngang xuyến vàng xà tích

Ống vôi trầu đỏ quạch thơm cay

Yếm đào dải lụa tung bay

Mặc áo đổi vạt chân giày quai ngang

Miếu đôi cô Cam Đường cổ tích

Hiếu anh linh hách trịch thế gian

Thỉnh cô trắc giáng đàn tràng

Khuông phù đệ tử an khang thọ trường

10. Văn Cậu Quận Đồi Ngang

Bản văn này nói về Thánh Cậu được thờ ở Phủ Đồi Ngang – Ninh Bình . Dược dùng khi hát hầu trong Hệ thống Tứ phủ

Trên trời nổi trận mưa sa

Hồng vân ngũ sắc hoá ra cậu Hoàng

Nguyên xưa cậu ngự Đồi Ngang

Có giấy Mẫu truyền cậu kíp ran gay

Tháng ba trảy hội phủ giày

Công Đồng, Phủ Bóng ra ngay Phủ Bà

Về đồng chit chiếc khăn hoa

Kì thi khoá hội cậu ra kinh kỳ

Vua yêu, Mẫu lại yêu vì

Nâng niu như ngọc lưu ly vàng mười

Ngọc lưu ly càng nhìn càng thắm

Bông hoa đào càng ngắm càng xinh

Cậu Hoàng ba bảy tuổi xanh

Anh tài nhất mực thông minh tuyệt vời

Trái đào tóc chấm ngang vai

Tay cầm quyển sổ bút ngọc cài tai đi chấm đồng

Tai nghe nhạc ngựa long nhong

Nhạc ngựa cậu Quận đèn chong cậu về

Con ngựa hồng khoan khoan chân bước

Giương cung thần bắn suốt mình chim

Một đàn chim nhạn bay lên

Tránh sao cho khỏi mũi tên cậu Hoàng

Cái cung bạc, mũi tên vàng

Giương cung cậu bắn rõ ràng mười mươi

Cậu ăn chơi nghiêng nước đổ trời

Có khi thanh lịch tốt tươi anh hào

Đền đây khuya sớm ra vào

Đôi tay nâng bức màn đào quỳ tâu

Ngày ngày đôi buổi theo hầu

Vua cha cũng quý Chúa Chầu cũng thương

Tấu cho phật thánh mười phương

Thanh đồng đệ tử tựa nương trăm tuổi già

Tục truyền tháng tám hội Cha

Tháng ba hội Mẫu gần xa nức lòng

Cậu Đồi giục ngựa qua sông

Hèo hoa cậu vác thương đồng phải theo

Thương đồng tứ núi cũng leo

Thất sông cũng lội cửu đèo cũng qua

Chân tâm niệm chữ Di Đà

Vào chùa Non Nước hái hoa đem về

Băng rừng vạn dặm suối khe

Khi chơi Yên Tử lúc về Quỳnh Lâm

Thương người thành kính nhất tâm

Cứu cho thoát ách trầm luân mọi loài

Cậu nay đích thực người trời

Tỏ lòng trung hiếu thương người trần ai

Gia ân tiếp lộc ban tài

Tạ xong ba lễ cậu ngồi nghe văn

Văn cậu bắn cung

Anh hùng có một không hai

Côn quyền kiếm kích đủ tài kinh luân

Đường đường rạng vẻ đai cân

Cung đeo kiếm giắt tiến quân lên ngàn

Ba quân nghe lệnh truyền ban

Bốn phương tám hướng quanh ngàn bủa vây

Cung vàng cầm chắc trong tay

Tên thần lắp sẵn tên bay nhẹ nhàng

Chim ưng đà điểu đại bàng

Cùng loài hổ bảo sói lang hại người

B.T

Vở chèo “Đồng tiền Vạn Lịch”: Kịch bản sáng tạo từ tích truyện cũ

Mới đây, Đoàn chèo Hải Phòng đã có buổi diễn báo cáo Hội đồng nghệ thuật và khán giả vở diễn “Đồng tiền Vạn Lịch”, một vở chèo cổ được xây dựng kịch bản dựa trên tích truyện văn học dân gian. Ngay trong buổi diễn báo cáo, vở chèo “Đồng tiền Vạn Lịch” đã nhận được nhiều lời ngợi khen từ Hội đồng nghệ thuật cũng như khán giả. Hiện Đoàn chèo Hải Phòng vẫn đang tích cực hoàn thiện để nâng cao chất lượng cho vở.

Mối nhân duyên éo le

“Đồng tiền Vạn Lịch” là bức tranh cuộc sống của người dân Bến Hạ ở bên bờ sông Cả. Đây cũng là nơi se duyên cho Vạn Lịch (diễn viên Thanh Bình) và Ngọc Mai (diễn viên Hương Huế). Cha mẹ Ngọc Mai trước đây từng là bạn buôn bán với Vạn Lịch, vì gặp nạn mà Ngọc Mai bơ vơ, phải sống trong nhà Phú ông, một kẻ hám tiền của. Và chính Vạn Lịch, vì cảm thương, yêu mến Ngọc Mai mà đã tìm đến để kết duyên cùng nàng khi Phú ông thông báo cùng lúc kén rể cho cả con gái hắn, Kim Xuân,và Ngọc Mai. “Kẻ tham tiền dùng tiền là được”, bằng tiền vàng, Vạn Lịch đã cứu được Ngọc Mai ra khỏi chốn tù túng, giả nhân giả nghĩa bấy lâu và nên duyên vợ chồng từ đó.

Nhưng cũng vì tình yêu, vì ghen tuông mù quáng mà Vạn Lịch đã đuổi vợ ra khỏi nhà. Cơ sự là khi chàng khờ Đỗ Bở (diễn viên Văn Mởn) đi đánh giậm ở ngay gần nơi đậu thuyền của vợ chồng Vạn Lịch, không may bị cảm. Khi ấy chỉ có Ngọc Mai ở trên thuyền. Nàng đã đưa Đỗ Bở lên thuyền nghỉ ngơi và săn sóc. Vạn Lịch bắt gặp cảnh đó mà nghi ngờ lòng thủy chung của vợ, đưa cho nàng một thỏi vàng và đuổi đi. Bị chồng đoạn tuyệt, Ngọc Mai quyên sinh nhưng không thành, may mắn gặp lại Đỗ Bở cứu giúp và về ở cùng chàng khờ trong túp lều tranh lụp xụp.

Câu chuyện về sự nhân nghĩa

Sống cùng Ngọc Mai, Đỗ Bở được nàng chỉ bảo những điều hay dở ở đời, nhất là cách chọn bạn mà chơi. Đi đánh giậm, Đỗ Bở phát hiện ra có rất nhiều vàng nhưng không hay biết. Cho đến khi về nhà, tình cờ một lần chàng ta cầm thỏi vàng năm xưa của Ngọc Mai mang ra đáp vịt thì mới được vợ chỉ cho và dặn ra chỗ bờ sông mang hết chỗ vàng đó về nhà.

Ngờ nghệch, khờ khạo, nghe lời vợ đi tìm bạn để kết thân, Đỗ Bở lên đền làm bạn với phỗng, ngày rằm, mùng một đều mang rượu đến uống với tượng phỗng. Trong lúc say rượu, Đỗ Bở đã bê nguyên cả tượng phỗng rời khỏi chỗ cũ. Bởi vì thế mà mấy ngày sau khi nhà vua đến thăm đền thì lâm bệnh. Cả làng từ ai cũng ra sức nâng tượng phỗng về chỗ cũ mà không được. Đỗ Bở được triệu đến và chỉ có Đỗ Bở mới nhẹ tay một cái là bê được cả bức tượng về chỗ cũ. Nhà vua không trách tội mà coi đó như là sự thấu hiểu giữa bậc thánh thần với kẻ lương thiện, không có mưu đồ gì xấu xa và còn ban thưởng cho vợ chồng Đỗ Bở và Ngọc Mai.

Mong ước bấy lâu một lần được gặp lại Vạn Lịch để trả lại thoi vàng năm xưa nên Ngọc Mai đã xin nhà vua cho nhận một chân tuần ty ở sông Cả, thu thuế của các thuyền buôn. Nhà vua đồng ý ngay và từ đó hai vợ chồng Đỗ Bở chuyển ra sống bên cửa sông để làm nhiệm vụ. Từ đây mà ba người Đỗ Bở – Ngọc Mai – Vạn Lịch đã tái ngộ. Lúc này mới hay, số vàng bị chìm ở bãi vũng chính là từ thuyền của Vạn Lịch bị bão nhấn chìm năm xưa. Ngọc Mai muốn trả lại cho Vạn Lịch thì nhận được lời chối từ: “Điều quý nhất tự tôi làm mất/ Vàng bạc bây giờ cũng vô nghĩa mà thôi”. Còn Đỗ Bở thì mong muốn Ngọc Mai trở về sống cùng với Vạn Lịch như thuở nào. Khẳng khái từ chối, Vạn Lịch kiên quyết rời đi và chúc phúc cho hai người. Về số vàng bạc, Ngọc Mai xin với nhà vua cho đúc thành tiền Vạn Lịch để phân phát cho người nghèo để đồng tiền nhân nghĩa còn mãi với muôn đời.

Vạn Lịch vì ghen tuông mù quáng đã đoạn tình với Ngọc Mai

Giá trị nhân văn còn mãi

Kịch bản chèo “Đồng tiền Vạn Lịch” do Trưởng đoàn Vũ Huy Thành xây dựng từ truyện cổ tích cùng tên với nhiều sự sáng tạo. Đạo diễn Lê Thanh Tùng tiếp tục thổi hồn cho vở diễn với những nét tinh tế trong nghệ thuật biểu diễn. Cùng với đó, dàn diễn viên nổi trội của Đoàn chèo Hải Phòng khi được phân vai đã hết sức tập luyện để thể hiện được ý tứ của tác phẩm. “Đồng tiền Vạn Lịch” tiếp tục là một vở chèo thể hiện dấu ấn, sức sống mới của Đoàn chèo Hải Phòng trong đời sống sân khấu chèo hiện nay.

Tác giả Vũ Huy Thành cho biết “Bộ ba diễn viên: Thanh Bình – Hương Huế – Văn Mởn của đoàn một lần nữa lại được tin tưởng giao hóa thân vào ba nhân vật chính của vở, trong một mối nhân duyên éo le. Xoay quanh mối nhân duyên giữa ba nhân vật, vở chèo lên án những kẻ chạy theo sự giàu sang phú quý mà quên đi điều nhân nghĩa”. Đây cũng là bộ ba diễn viên ăn ý ở nhiều vở diễn thành công của đoàn trong thời gian qua. Các nghệ sĩ cho biết đảm nhận vai diễn mới với những màu sắc mới nên ai cũng cố gắng để thể hiện tròn vai và điều vui mừng nhất là khi nhận được những ngợi khen ban đầu từ phía khán giả.

Qua sự sáng tạo của tác giả kịch bản, sự tích “Đồng tiền Vạn Lịch” trong vở chèo được xem là một câu chuyện nhân văn cao cả, giàu tính hướng thiện khi xây dựng tuyến nhân vật chính đều là những con người khẳng khái, nghĩa trực. Cùng với đó, tuyến các nhân vật phụ: Phú ông, Bà Vơ, Kim Xuân, Lý trưởng, Dậu… với lối diễn hài hước và những nét duyên của hề chèo đã làm nổi bật thêm chủ đề của tác phẩm. “Muôn đời trăng khuyết lại tròn/ Sinh sinh, diệt diệt ấy vòng hóa công/ Sân, si, tham, mạn làm chi/ Cuộc đời mang lại điều gì cho nhau/ Muốn ăn quả ngọt mai sau/ Trồng cây phúc đức bền lâu đời đời”. Những câu hát khép lại cánh màn nhung của vở diễn cũng là lời kết cho một câu chuyện đạo đức đầy nghĩa tình với người xem.

Các bạn có thể xem lại vở chèo tại đây.

Huyền Trâm

Sức sống di sản Bài Chòi

UBND tỉnh Bình Định vừa phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức lễ đón bằng UNESCO công nhận nghệ thuật Bài Chòi Trung bộ Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây không chỉ là tin vui của 9 tỉnh miền Trung có nghệ thuật Bài Chòi, mà còn là cơ hội để chính quyền và cộng đồng chung sức bảo tồn, phát huy nghệ thuật Bài Chòi, làm phong phú hơn đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân.

Sức sống di sản Bài Chòi
Bài Chòi được trình diễn ở phố đi bộ tại Hội An, Quảng Nam, thu hút đông đảo du khách. Ảnh: Thanh Thuận

Di sản độc đáo của cư dân các tỉnh Trung bộ

Bài Chòi là một trò chơi dân gian, xuất hiện cách đây khoảng 300 – 400 năm, mang hơi thở cuộc sống của cộng đồng dân cư các tỉnh Trung bộ (từ Quảng Bình vào đến Khánh Hòa) thường được tổ chức vào dịp Tết Nguyên đán hay lễ hội truyền thống. Người dân các tỉnh Trung bộ đều ưa chuộng loại hình nghệ thuật này. Bài Chòi lưu giữ bản sắc của cư dân bản địa với những giá trị văn độc đáo và sức sống mạnh mẽ được cộng đồng cư dân Trung bộ gìn giữ bao đời nay.

Từ trò chơi dân gian, nói tiếng nói của dân gian, chủ yếu phục vụ tầng lớp nhân dân lao động và được chính người dân kế thừa và phát triển thành nghệ thuật, Bài Chòi trở thành một loại hình sân khấu ca kịch dân gian đặc sắc của khu vực miền Trung. Trải qua mấy trăm năm, lúc thăng, lúc trầm, nhưng nghệ thuật Bài Chòi như mạch nước ngầm, luôn hiện diện trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân các tỉnh khu vực Trung bộ.

Ông tổ của Bài Chòi là nhà văn hóa Đào Duy Từ (1571 – 1634). Ông còn là nhà văn hóa, quân sự kiệt xuất dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Ông đã phát triển Bài Chòi từ kiểu “hát ống” của những người canh rẫy.

Sử sách còn ghi, phần nhiều thời gian Đào Duy Từ ở đất Tùng Châu, tức huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định ngày nay. Ông đã tổ chức để dân khai khẩn, sản xuất, chỉ huy đào sông Đào kết nối từ sông Lại Giang ra tận Tam Quan. Trong quá trình khẩn hoang, việc trồng trọt thường bị thú rừng lấn phá. Người nông dân thường dựng những chòi cao hơn 2m, vững chắc, kèm dàn âm thanh (trống, mõ, phèng la) để trấn áp, xua đuổi thú hoang. Mỗi khi có thú rừng thì khua trống, gõ mõ để thú rừng hoảng loạn, tháo chạy.

Khi nhàn rỗi, để khuây khỏa, người dân chế ra hai ống tre căng dây và bịt một đầu bằng da ếch để làm ống loa nói chuyện với nhau từ chòi này sang chòi khác, hát đối đáp qua những câu ca dao, tạo thành loại hình “hát ống”.

Ông Đào Duy Từ đã phát triển từ “hát ống” thành trò chơi “đánh bài chòi” với những lá bài và lập thành hệ thống quy củ để giải trí. Qua đó không chỉ tạo không khí vui tươi cho người dân, mà còn là kinh nghiệm răn đời, dạy người.

Bài Chòi có hai hình thức chính: Chơi Bài chòi và trình diễn Bài Chòi. Chơi Bài Chòi liên quan đến một trò chơi thẻ bài trong chòi tre vào Tết Nguyên đán.

Trong nghệ thuật Bài Chòi, thơ ca, âm nhạc, ngôn ngữ, phong tục, lối sống được chuyển tải một cách mộc mạc, tự nhiên, tạo sức hấp dẫn với công chúng. Rất nhiều tục ngữ, ca dao, bài vè… được biến tấu, diễn tả sinh động mọi cảnh đời, từ tình yêu đôi lứa đến những khúc mắc nhân tình thế thái, tạo nên sự riêng biệt của Bài Chòi. Những người lưu giữ và thực hành nghệ thuật Bài Chòi là các anh chị Hiệu, những nghệ nhân biểu diễn Bài Chòi đơn lẻ và những nghệ nhân làm thẻ bài.

Mở ra cơ hội mới cho địa phương có Bài Chòi

Những năm gần đây, phong trào chơi Bài Chòi, hội Bài Chòi ở khu vực miền Trung diễn ra quanh năm, từ thành thị đến nông thôn, tạo không khí vui tươi, lành mạnh.

Khi nghệ thuật Bài Chòi chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã mở ra cơ hội mới cho chính quyền và người dân phát huy nhiều hơn nữa giá trị môn nghệ thuật dân gian này trong đời sống văn hóa tinh thần.

Tại tỉnh Bình Định, việc bảo tồn, gìn giữ nghệ thuật Bài Chòi được tỉnh đặt ra từ lâu như: Nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo tồn những giá trị tiêu biểu của hát bội, Bài Chòi; truyền dạy nghệ thuật hát Bội, Bài Chòi trong cộng đồng và trường học…

Bình Định đang thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nghệ thuật Bài Chòi. Ngoài các đơn vị, đoàn hát Bài Chòi chuyên nghiệp, Bình Định có nhiều câu lạc bộ, điểm hát Bài Chòi dân gian thường xuyên hoạt động. Đặc biệt, tại huyện Hoài Nhơn – nơi được coi là sản sinh ra nghệ thuật đánh Bài Chòi cổ, cũng là huyện duy nhất ở Bình Định có câu lạc bộ dân ca Bài Chòi ở cả 17 xã, thị trấn và hiện đang xúc tiến thành lập câu lạc bộ Bài Chòi cấp huyện.

Mấy năm gần đây, nghệ thuật Bài Chòi không những phục vụ nhân dân, mà còn thu hút nhiều du khách đến tham gia, góp phần phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho cộng đồng. Tại một số thành phố lớn thuộc của vùng Trung bộ, Bài Chòi đã được chính quyền đưa xuống phố, níu chân du khách thưởng thức và tham gia chơi cùng.

Ông Trịnh Công Sơn, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Bài Chòi thuộc Trung tâm Văn hóa Đà Nẵng cho biết, từ một thú chơi dân dã, chơi Bài Chòi đã trở thành một sản phẩm du lịch độc đáo. Hiện nay, khách du lịch trong và ngoài nước tham gia chơi Bài Chòi tại Đà Nẵng ngày càng đông. Chủ trương đưa bài chòi xuống phố là ý tưởng hay, đưa những cái đẹp của nghệ thuật dân gian đến gần với người xem hơn.

Còn ở Hội An – thành phố du lịch nổi tiếng của tỉnh Quảng Nam, để gìn giữ nét độc đáo của nghệ thuật Bài Chòi, từ năm 1998, Trung tâm Văn hóa – Thể thao thành phố Hội An đã mở nhiều lớp đào tạo nhạc công, diễn viên hát dân ca, Bài Chòi. Những năm sau đó, thành phố Hội An đã đưa dân ca, Bài Chòi vào trường học, mở nhiều lớp dạy hát dân ca, Bài Chòi miễn phí cho trẻ em.

Thanh Thuận
Theo baomoi.com

Tìm bài hát này:

  • song ca dân ca

Sức sống bền bỉ của tuồng

Mỗi lần được đứng trên sân khấu biểu diễn trước hàng chục, hàng trăm khán giả chăm chú lắng nghe, những nghệ sĩ trót mang nghiệp với tuồng như được tiếp thêm sức mạnh.

Trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử, tuồng vẫn có một vị thế riêng trong dòng chảy văn hóa xứ Quảng. TRONG ẢNH: Một cảnh trong vở tuồng Trần Bình Trọng do Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh biểu diễn. (Ảnh do Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh cung cấp)

Làng Khánh Đức được dân xứ Thanh-Nghệ lập giữa đầu thế kỷ XIX khi vua Minh Mạng cho cắt bốn tổng của huyện Duy Xuyên và một tổng của huyện Lễ Dương (nay là huyện Thăng Bình) lập nên huyện Quế Sơn. Trong khoảng thời gian này, một nhóm nghệ sĩ hát bội từ kinh thành Huế đưa vợ con băng qua vùng đất Phú Xuân vào lập ngôi làng nhỏ trên vùng đất Khánh Đức, đặt tên Đức Giáo và lấy xướng ca làm nghề.1. Tư liệu về nghệ thuật Tuồng xứ Quảng ghi rõ, giai đoạn đầu đến cuối thế kỷ XIX, trên vùng đất Quảng Nam hình thành 2 gánh hát Đức Giáo (nay thuộc xã Quế Châu, huyện Quế Sơn) và Khánh Thọ (nay là TP. Tam Kỳ); họ lưu diễn khắp nơi, từ làng trên xóm dưới, che bạt làm rạp giữa bãi làng.

Gánh Đức Giáo đi diễn khắp nơi, thỉnh thoảng được mời vào cung đình phục vụ nhà vua. Những lúc hưng thịnh, gánh chia làm 2 đội thay nhau đi biểu diễn. Nay, vùng Quế Châu,  các cụ cao niên vẫn ngâm nga câu xướng “Hữu đinh vô điền, xuất ca chi các huyện hạt, dĩ thu ngân sung nạp ngân đinh” (Có đinh mà không có ruộng, đi hát khắp các huyện hạt lấy tiền để nạp thuế đinh) hay “Đức Giáo vô địa lập chùy dĩ xướng ca vi nghệ” (Làng Đức Giáo không mảnh đất cắm dùi lấy xướng ca làm nghề) để nhắc lại một thời quá khứ vàng son của gánh hát dân gian này.

Trong khi đó, gánh hát Khánh Thọ tương truyền có từ thời Gia Long (1802-1820) do một nhóm ăn mày lập gánh mua vui rồi thành nghiệp, được xem là gánh hát của người nghèo, được yêu thích bởi sự dân dã, gần gũi với đời sống thường nhật của người dân.

Vào thời huy hoàng nhất, gánh Khánh Thọ được biết đến với những tên tuổi như ông Giờ, ông Thuyền, ông Thi, ông Trí, ông Nhi, ông Từ, Bảy Xiên, Tám Xẹo, Sáu Xẻ… Đặc biệt, thấy được nhu cầu thưởng thức của khán giả, nhiều người như ông Nhưng Ấm, ông Nhồng đã tách ra lập gánh hát riêng.

Cùng với sự hưng thịnh của Đức Giáo và Khánh Thọ, khoảng đầu thế kỷ XX, trên khắp vùng Quảng Nam-Đà Nẵng, nhiều trường tuồng, rạp hát ra đời như Chú Châu (Hội An), Bàu Toa (xã Đại Thanh, huyện Đại Lộc), Trường Tuồng Vĩnh Điện (thị trấn Vĩnh Điện, huyện Điện Bàn), Miếu Bông (xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang)…

Lúc này, nghệ thuật tuồng có sự chuyển biến mạnh mẽ, bên cạnh nghệ thuật biểu diễn dân gian, sân khấu quần chúng đã xuất hiện thêm loại hình sân khấu giải trí, mua vui cho những khán giả có điều kiện về kinh tế.

Một thời gian dài, diễn tuồng đã ăn sâu vào đời sống tinh thần của người dân xứ Quảng. Sân bãi đầu làng, cuối xóm mỗi khi có đoàn tuồng về biểu diễn thường chật kín người xem. Thế nhưng, như nhiều loại hình giải trí khác, theo dòng lịch sử phát triển của dân tộc, nghệ thuật tuồng cũng bị ảnh hưởng, không chỉ mang nội dung truyền thống mà có xu hướng đổi mới, mở ra giai đoạn tuồng tiểu thuyết, tuồng xuân nữ, tuồng kiếm hiệp, tiếp thu những giá trị của nghệ thuật cải lương miền Nam để làm phong phú hình thức diễn tuồng. Cùng với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, nghệ sĩ tuồng đã có những vở diễn khai thác đề tài yêu nước, tiêu biểu như Kiều Quốc Sĩ, Anh Lan, chị Lan của soạn giả Tống Phước Phổ…

2. Ngày 8-6-2015, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận Tuồng xứ Quảng ở Đà Nẵng là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, là món quà quý giá với nhiều thế hệ nghệ sĩ tuồng đã và đang công tác tại Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh.

Tiền thân là Đoàn tuồng Giải phóng Quảng Nam, thành lập ngày 21-7-1967 tại căn cứ kháng chiến khu V, Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh trải qua bề dày gần 50 năm, dàn dựng, biểu diễn khoảng 100 vở các thể loại, nội dung khác nhau từ kinh kịch, dã sử, dân gian, truyền thuyết lịch sử, truyền thống yêu nước đến đề tài hiện đại, phóng tác từ kịch bản nước ngoài…

Là người được các thế hệ sau này tôn là “hậu tổ nghề Tuồng”, Nguyễn Hiển Dĩnh đã viết và soạn lại trên 20 vở tuồng như “Phong Ba Đình”, “Lục Vân Tiên”, “Giáp kén xã nhộng”, “Lý Mã Hiền”, “Võ Hùng Vương”… Kịch tuồng của Nguyễn Hiển Dĩnh mang lời văn, lời thơ giản dị, sử dụng ca dao tục ngữ cho lời thoại ngắn gọn, súc tích.

Trọn một đời cống hiến cho nghệ thuật, Nguyễn Hiển Dĩnh đã đào tạo nhiều học trò xuất sắc, trong đó có Nguyễn Nho Túy, Chánh Đệ, Chánh Phẩm, Văn Phước Khôi, Nguyễn Lai – được triều Nguyễn phong là Ngũ Mỹ, là 5 người đóng tuồng giỏi nhất của xứ Quảng thời bấy giờ.

Bén duyên với tuồng và gặp người bạn đời của mình trong những chuyến lưu diễn, đến nay vợ chồng NSND Thu Nhân, NSƯT Cao Đình Liên dường như đã đi trọn một đời tuồng.

Với Thu Nhân, bà làm quen với môn nghệ thuật này từ năm 1969 rồi thấm dần vào máu thịt lúc nào không hay. Ngày mới vào nghề, bà ghiền tuồng đến nỗi nhiều đêm về nằm mơ thấy mình chuẩn bị diễn mà chưa thay quần áo, đến lớp học mà chưa kịp hóa trang, luống cuống sợ thầy mắng mà tỉnh ngủ.

Thời gian khó, những thế hệ nghệ sĩ đi trước như bà thường xuyên có những chuyến lưu diễn về vùng sâu vùng xa. Ban đêm rét lạnh, quần áo mang theo không đủ ấm, kê bàn ghế làm giường, khó khăn đủ bề nhưng chẳng bao giờ bà có suy nghĩ sẽ bỏ tuồng. Bà bảo, tuồng như liều thuốc mê, học tới đâu mê tới đó nên dù khó khăn cũng quyết ở lại với tuồng.

Một số nghệ sĩ ở Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh kể rằng, khi còn sống, nghệ nhân Hồ Hữu Có đã truyền dạy cho bao thế hệ nghệ sĩ hầu hết các động tác trong vũ đạo tuồng. Ông từng chia sẻ, trong tuồng, nếu đem so sánh giữa hát và điệu bộ thì kẻ tám lạng, người nửa cân. Ví như trong vở tuồng “Giáp thập điều” dịch từ kinh kịch Trung Quốc, nhân vật Hoàng Phi Hổ khi quyết định bỏ vua Trụ tàn ác ra đi mang theo tâm trạng đi cũng dở, ở không đành.

Nhân vật nếu chỉ đọc lời thoại “Lụy san san nửa đi nửa ở” mà thiếu những vũ đạo biểu hiện sự giằng co trong suy nghĩ, những cái khoát tay dứt khoát, những động tác “khán” mạnh mẽ thì khó thể hiện được nội tâm nhân vật. Diễn tuồng khó là vậy nên không phải ai bước vào nghề cũng nổi tiếng và để lại ấn tượng trong lòng khán giả.

3. Cùng với niềm vui tuồng được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, thời gian qua, Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh tiếp tục đẩy mạnh việc đưa tuồng xuống phố, đến các trường học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng với mong muốn loại hình nghệ thuật này tiếp cận với nhiều đối tượng khán giả. NSƯT Phạm Thanh Tỵ, nguyên Trưởng phòng Nghiệp vụ Nhà hát tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh cho biết, mỗi năm ngoài diễn tuồng tại nhà hát từ 30 đến 40 buổi, đoàn còn tổ chức những chuyến lưu diễn theo hợp đồng hội làng, phục vụ lãnh đạo thành phố đón tiếp các đoàn khách…

Cũng theo NSƯT Thanh Tỵ, để khán giả, đặc biệt là khán giả trẻ hiểu và yêu nghệ thuật tuồng không phải chuyện một sớm một chiều hoặc chỉ vài buổi tiếp xúc là xong. Bên cạnh việc đào tạo đội ngũ nghệ sĩ kế cận, người làm công tác quản lý văn hóa cần phải hình thành những thế hệ khán giả yêu sân khấu dân gian. Có như vậy tuồng mới thật sự tìm lại được chỗ đứng trong lòng dân chúng.

Trong khi khán giả Đà Nẵng dần được tiếp cận nhiều hơn với nghệ thuật tuồng thì các làng, xã ở tỉnh Quảng Nam cũng thường xuyên tìm đến Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh kèm theo lời mời diễn. Đơn cử mới đây, vợ chồng ông Đinh Hoàng Nghị, Trưởng ban đi rước ở làng Phước Thượng, xã Quế Thuận, huyện Quế Sơn (Quảng Nam) đã đi một quãng đường dài gần 100 km ra Đà Nẵng mời đoàn tuồng về diễn trong Lễ hội mục đồng sắp diễn ra tại địa phương.

Có thể nói, mỗi lần được đứng trên sân khấu biểu diễn trước hàng chục, hàng trăm khán giả chăm chú lắng nghe đã như tiếp thêm sức mạnh cho những nghệ sĩ trót mang nghiệp với tuồng.

Nguồn: Theo Đà Nẵng Online

 

Lùm xùm danh hiệu NSND, NSƯT: Tiết lộ những “thâm cung bí sử”

Đã có không ít nghệ sĩ bị trượt NSƯT, NSND chỉ vì “vạ miệng”, kiêu căng, cái tôi lớn, nhưng cũng có trường hợp chính hội đồng xét tặng danh hiệu cũng vi phạm nguyên tắc nhưng đợt sau vẫn tiếp tục được “tín nhiệm”.

 

 

Chuyện hi hữu: Thành viên hội đồng bị “gài bẫy”

Quá trình xét tặng danh hiệu NSƯT, NSND trải qua 4 cấp, cấp thấp nhất cũng 5-7 người, cấp cao nhất là Hội đồng quốc gia cỡ chừng 30 thành viên của nhiều lĩnh vực.

Để hiểu hết về các lĩnh vực khác là điều không phải thành viên nào cũng làm được.

Thế nên, chuyện sai sót là không tránh khỏi. Câu hỏi đặt ra, tại sao nghệ sĩ có sai sót, thậm chí là vạ miệng cũng bị đưa lên bàn cân đợt này qua đợt khác, nhưng chuyện hội đồng làm sai lại “chìm xuồng”?

Trong câu chuyện trao đổi với NSND Bùi Đắc Sừ, thành viên hội đồng cấp Bộ và cấp Nhà nước, ông chia sẻ rằng, từng nhiều lần ngồi ghế hội đồng, ông luôn làm đúng theo tinh thần trách nhiệm được giao, không tư lợi, không làm những điều khuất tất để mang tiếng và ngượng với đồng nghiệp.

Tuy nhiên, có một lần mà đến giờ, không chỉ ông mà các thành viên hội đồng khác cũng cảm thấy ân hận.

NSND Bùi Đắc Sừ trao đổi với phóng viên xung quanh câu chuyện xét tặng danh hiệu

Đó là trường hợp của một họa sĩ sân khấu. Theo đánh giá của ông Bùi Đắc Sừ chỉ người này chỉ xứng NSƯT, dù có tên trong danh sách xét tặng NSND.

Các thành viên trong hội đồng cũng đồng ý như vậy. Nhưng sau đó, nghệ sĩ này đến từng nhà của các thành viên để “nói khó” rằng, em biết mình kém, nhưng em chỉ xin anh một phiếu để khi công bố kết quả cho đỡ ngượng.

Ai dè, khi hội đồng công bố kết quả, ông này có  tất cả phiếu thuận của hội đồng. Lúc này, những người “cầm cân nẩy mực” mới té ngửa là hóa ra, ai cũng được nghệ sĩ này đến nhà “nói khó” câu đó.

Cuối cùng thì người này vẫn được phong NSND. Cứ cho là vì “sự đã rồi” khi công bố kết quả, nhưng theo quy chế, các trường hợp được hội đồng chuyên ngành thông qua và trình lên thì vẫn còn một hội đồng cuối cùng là cấp quốc gia.

Hội đồng này có sự đại diện nhiều lĩnh vực, cấp lãnh đạo trong nghành văn hóa để rà soát lại các trường hợp. Họ vẫn có quyền gạt đi các trường hợp không xứng đáng (nhưng không được đề xuất thêm).

Vậy thì sao trường hợp “đi đêm”, ăn gian này vẫn không bị xét lại? Các thành viên hội đồng vì sao không ai dám nói ra sai sót “bị gài” này?

Vi phạm quy chế, vi phạm đạo đức: Người gạt, người được bỏ qua

Tại đợt xét duyệt lần này, có một số trường hợp nghệ sĩ được đánh giá là “cánh chim đầu đàn” của ngành nhưng khi ra hội đồng lại gặp phải nhận xét rất gây tranh cãi là “vi phạm quy chế”, “có vấn đề về đạo đức”.

Như nghệ sĩ múa Tuyết Minh – chuyên viên phòng nghệ thuật- Cục nghệ thuật biểu diễn.

Trong quá trình tiếp xúc với các thành viên hội đồng, các nghệ sĩ, chúng tôi đều nhận được các đánh giá khen ngợi tài năng dành cho nghệ sĩ Tuyết Minh.

12 huy chương vàng với nghệ sĩ múa có thể được coi là một kỷ lục, bởi với ngành múa rất ít hội diễn và đạt huy chương vàng là vô cùng khó.

Số lượng huy chương cho các đoàn cũng luôn bị khống chế là không vượt quá 30%. Vậy nhưng, trong 17 năm gắn bó với ngành múa chuyên nghiệp, nghệ sĩ Tuyết Minh đã liên tục gặt hái huy chương.

Thế nhưng, danh hiệu NSƯT tưởng đơn giản thế mà sao xa vời với chị đến vậy?

 

 

Nghệ sĩ múa Tuyết Minh nhiều lần rơi nước mắt ấm ức khi tường trình sự việc với phóng viên

Trong cuộc tiếp xúc với báo chí mới đây, nghệ sĩ Tuyết Minh không dưới 3 lần nói trong tức tưởi vì hội đồng cấp cơ sở là Cục nghệ thuật biểu diễn đã nói không đúng về mình trên báo chí.

Nói chị vi phạm quy chế khi là người của Cục mà lại thành lập đoàn múa tư nhân.

Nhưng trong văn bản Số 12/QĐ-GMVN ký ngày 22/12/2010 mà nghệ sĩ này cung cấp cho báo chí thì được biết, Quyết định thành lập Đoàn múa Khám Phá hiện thuộc Công ty TNHH Dịch vụ truyền thông Gương mặt Việt Nam, trên cơ sở tiếp nhận Đoàn múa Khám Phá do Tuyết Minh sáng lập năm 2005.

Đoàn múa Khám Phá được sử dụng trụ sở, tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản của công ty trong các giao dịch với cơ quan, tổ chức bên ngoài”.

Theo đó, ngay sau quyết định thành lập Đoàn múa Khám Phá, nghệ sĩ Tuyết Minh từ vai trò sáng lập đoàn đã xin đứng ở vị trí cố vấn để không vi phạm quy chế.

Người đứng đầu đoàn múa hiện nay được ghi trong quyết định thành lập là bà Đoàn Khánh Diệp chứ không phải nghệ sĩ Tuyết Minh.

Ngoài vấn đề này, tại Hội đồng cấp Nhà nước, nghệ sĩ Tuyết Minh bị trượt và được hội đồng này trả lời là do vi phạm quy chế, có vấn đề về đạo đức.

Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi được biết, nghệ sĩ Tuyết Minh cũng từng xảy ra một hai lần va chạm về lời nói với lãnh đạo, nhưng để thành văn bản hay quyết định vi phạm thì chị chưa nhận được.

“Án tại hồ sơ”, nhưng trong khi không có bằng chứng cụ thể, xác thực, chỉ căn cứ vào lời nói mà các thành viên hội đồng vẫn đồng thuận không bỏ phiếu cho nghệ sĩ Tuyết Minh.

 

 

Kết luận của Nhà hát chèo Việt Nam về những sai sót của ông Bùi Đắc Sừ khi ông còn làm trưởng đoàn

Trong khi đó, trường hợp của ông Bùi Đắc Sừ, vi phạm quy chế của cơ quan khi ông còn làm trưởng đoàn lại vẫn được phong NSND đợt 6/2007.

Bản thân ông Sừ cũng thừa nhận với phóng viên, ông có làm sai nguyên tắc chi tiêu của đoàn khi trích 10% tiền vở diễn cho địa phương trong khi chưa có quy định.

Sau đó, ông bỏ chức trưởng đoàn và sang phòng nghệ thuật làm việc là do “tự ái”.

Dù vậy, ông Sừ vẫn được tín nhiệm giữ nhiều trọng trách tại Nhà hát chèo VN, nhận các giải thưởng lớn của nhà nước trao tặng.

Và mới đây nhất, do không có văn bản giấy tớ chứng minh ông Sừ tham ô công quỹ như lời nghệ sĩ Minh Thu tố cáo (văn bản chỉ ghi ông Sừ làm sai nguyên tắc chi tiêu), một tờ báo đã phải đính chính.

Vậy thì với trường hợp của nghệ sĩ Tuyết Minh, khi không có văn bản vi vi phạm quy chế làm việc của cơ quan, sao vẫn được coi là bằng chứng để trượt danh hiệu?

Có nghệ sĩ ví von: Nghệ sĩ Minh Thu phát biểu trên facebook cá nhân rằng, “còn Bùi Đắc Sừ ngồi ghế hội đồng thì ngành chèo còn thiệt”.

Vậy sao không thấy ông “tự ái” như khi rời ghế trưởng đoàn sang làm chuyên viên? Vẫn kiên trì ngồi ghế hội đồng hết mùa này đến mùa khác?

Trượt NSND chỉ vì “ghét cái thái độ”

Một thành viên hội đồng nghệ thuật năm nay (chúng tôi xin phép giấu tên) tiết lộ lý do khiến cố nghệ sĩ Nguyễn Anh Dũng bị trượt danh hiệu NSND từ đợt 7/2011.

Người này kể rằng: Khi còn làm Giám đốc Nhà hát kịch Việt Nam, nghệ sĩ Anh Dũng được mời làm thành viên hội đồng xét duyệt.

Có một thực tế là không phải thành viên hội đồng nào cũng có khả năng bao quát hết các lĩnh vực sân khấu khác, không biết hết tài năng của từng diễn viên được xét, nhất là lĩnh vực phim ảnh.

Nhưng nghệ sĩ Anh Dũng do đóng nhiều phim nên cũng quen mặt hết các diễn viên. Vì vậy, đến hồ sơ nào ông cũng nói “cậu này từng là học trò của tôi ấy mà”.

 

Cố nghệ sĩ Anh Dũng từng bị trượt danh hiệu mà theo một thành viên nghệ thuật là chỉ vì ghét thái độ

Vậy là các ông hội đồng khác thấy “ngứa mắt”, cho như thế là kiêu căng. Khi nghệ sĩ Anh Dũng được xét NSND thì các thành viên không bỏ phiếu vì “ghét cái thái độ” chứ không phải vì vấn đề tài năng hay đạo đức.

 Từ chuyện cảm tính này mà khi nghệ sĩ này qua đời, ngành văn hóa đã phải truy tặng danh hiệu khi nghệ sĩ Anh Dũng đã qua đời.

Câu chuyện gây nuối tiếc và cả trách cứ khi đã chậm trễ trong việc vinh danh, làm giảm đi ý nghĩa cua danh hiệu cao quý.

Hay như có trường hợp nghệ sĩ từng mang dao đến dọa lãnh đạo ngành mình vì bất đồng trong công việc, phải điều chuyển sang đơn vị khác. Nhưng tại đây, nghệ sĩ này vẫn được được xét các danh hiệu cao nhất.

Nghệ sĩ Minh Thu được hầu hết người trong nghề đánh giá là con chim đầu đàn của ngành chèo. Tuy nhiên, ông Bùi Đắc Sừ lại cho rằng, bà diễn xạo, hình thức không phù hợp nên chỉ xứng là NSUT

NSƯT Minh Thu cũng được những người trong giới đánh giá là cánh chim đầu đàn của ngành chèo.

Là con gái của NSND Mạnh Tuấn- người được mệnh danh là “vua hề làng chèo”, nghệ sĩ Minh Thu đã thừa hưởng  nhiều tinh túy của cha mình để lại cho ngành chèo.

Bà cùng với nghệ sĩ Thanh Ngoan, Xuân Hinh, Khắc Tư, được đánh giá điển hình của ngành chèo, được giới trong nghề nể phục về tài năng.

Năm 1997, bà được phong NSƯT, nhưng đã 18 năm trôi qua, dù đã về hưu nhưng bà vẫn miệt mài truyền thụ các vai chèo mẫu cho thế hệ trẻ, vẫn gặt hái huy chương.

Sau NSƯT, bà có thêm 2 HCV nhưng vẫn không được xét NSND. Lý do được đưa ra là “diễn xạo”, “ngoại hình không phù hợp”.

Nghệ sĩ Xuân Hinh cũng được đa số người dân trong nghề đánh giá là quá xứng đáng, để lại dấu ấn số 1 với các vai hề chèo.

Anh không chỉ hát chèo mà còn hát văn, hát xẩm, đóng góp vào việc bảo tồn nghệ thuật truyền thống khi bỏ kinh phí để sưu tầm, hoàn thành DVD 8 trích đoạn chèo tiêu biểu như: Hề cu Sứt, Thầy bói đi chợ, Phù thủy sợ ma, Hề mồi đố đá, Lý trưởng mẹ Đốp, Hề gậy theo thầy, Thị Màu lên chùa, Thầy đồ dạy học.

Với những đóng góp này, anh được vinh danh trong lễ trao giải San Francisco Award 2013 do một tổ chức của Mỹ trao tặng.

Nghệ sĩ Xuân Hinh được một tổ chức của Mỹ vinh danh vì có nhiều đóng góp trong việc bảo tồn nghệ thuật truyền thống

Nghệ sĩ Xuân Hinh được một tổ chức của Mỹ vinh danh vì có nhiều đóng góp trong việc bảo tồn nghệ thuật truyền thống

Lý do anh không được xét NSND đợt này là bởi không có huy chương. Thực ra, đã từ lâu, Xuân Hinh tự rút lui khỏi các hội diễn vì không còn tin tưởng.

Nhiều nghệ sĩ tên tuổi được vinh danh nhưng vẫn có không ít trường hợp tài năng không có mà vẫn được trao huy chương để có đủ thành tích nhận danh hiệu.

Vì cảm tính, chỉ “nghe nói” nên mới có chuyện, nghệ sĩ tài năng Diễm Lộc của ngành chèo đã 76 tuổi vẫn còn trong danh sách xét.

Có thành viên hội đồng ngỡ ngàng cứ nghĩ bà phải được phong NSND từ lâu rồi mà sao vẫn “ngồi cùng mâm” với thế hệ học trò trong danh sách.

Lý do cũng là bị “soi” về đời sống cá nhân của bà khi còn trẻ. Sau lần bị trượt, bà tự ái không làm đơn nữa, chỉ miệt mài với việc giảng dạy, truyền thụ kiến thức trong mấy chục năm qua cho thế hệ trẻ đến tận bây giờ.

Lần này là do các con bà thấy tiếc cho mẹ mà làm đơn xin xét. Thật đáng mừng là trong danh sách NSND được thông qua đợt này đã có tên nghệ sĩ Diễm Lộc.

Và còn nhiều nữa những cái tên “cây đa cây đề” của sân khấu bị đánh trượt chỉ vì những lý do thiếu cơ sở, quá soi xét vào cá tính, cái tôi của nghệ sĩ mà phủ nhận những công lao và tài năng được đánh giá là chưa có người thứ 2 thay thế, như Minh Thu, Thanh Ngoan, Xuân Hinh…

Theo: Giadinh.net.vn

Cải lương… xưa và nay

Những thập niên 60 và 70 (thế kỷ XX) có lẽ là thời hoàng kim của cải lương. Lúc bấy giờ cải lương là món ăn tinh thần được người dân yêu chuộng nhất, vượt trội hơn cả ca nhạc và thoại kịch. Vé chợ đen luôn có mặt ở tại cửa rạp với giá có khi gấp đôi mà người xem vẫn chấp nhận. Hiện tượng “mua dàn” thường xảy ra, vì người “mua dàn” cầm chắc tiền lời trong tay. Câu hỏi đặt ra là: Tại sao cải lương thời ấy lại được yêu chuộng như vậy?

 

Các thế hệ nghệ sĩ cải lương.

* Thứ nhất là, đào kép có thực tài, diễn xuất nhập vai, ca hay, múa giỏi, khá gần gũi với quần chúng, được quần chúng ái mộ và đã phong cho họ những mỹ danh xứng đáng với tài năng của họ.

Đó là “Đệ nhất danh ca miền Nam” cho Út Trà Ôn; “Sầu nữ” cho Út Bạch Lan; “Cải lương chi bảo” cho Bạch Tuyết; “Thanh sắc vẹn toàn” cho Thanh Nga; “Tiếng ca huyền diệu” cho Minh Cảnh…

* Thứ hai là, nhờ nhiều soạn giả tài hoa, mang nhiều tâm huyết, đã cho ra nhiều kịch bản (vở tuồng) xuất sắc, nội dung khai phóng, gây ấn tượng mạnh cho người xem.

Đó là Hà Triều Hoa Phượng với Tấm lòng của biển, Nửa đời hương phấn, Tuyệt tình ca (viết chung với Ngọc Điệp)…. và nhất là Con gái chị Hằng. Vở này đã diễn suốt 21 đêm liên tục tại rạp Nguyễn Văn Hảo (Rạp Công Nhân ở TP. Hồ Chí Minh ngày nay). Đó là Thu An với Nắng chiều trên sông Dịch, Hai chiều ly biệt, Lá của rừng xanh. Đó là Qui Sắc với Người vợ không bao giờ cưới, Khi rừng mới sang thu… Đó là Nguyên Thảo với Tâm sự loài chim biển

Những nhân vật của những vở tuồng ấy đã “bình dân hóa” trong quảng đại quần chúng: Người ta đã gán tên những nhân vật trong vở tuồng cho những ai ngoài đời có những hoàn cảnh tương tự, như “Phà Ca” (trong Người vợ không bao giờ cưới), “Áo Vũ Cơ Hàn” (trong Tâm sự loài chim biển), “Ông Cò quận chín” (trong Tuyệt tình ca)…

Tuồng tích đã hay mà “văn chương” trong các vở tuồng cũng được các soạn giả trau chuốt kỹ càng; lại được đưa vào nhạc càng bóng bẩy, dịu êm, làm người xem (nghe) mê mệt:

“Lòng hẹn lòng, khi chia tay, như xé nát tâm hồn ai.
Trời lạnh lùng, mây cô đơn, buồn giăng khắp miền quan tái…”. (Mắt em là bể oan cừu)

Hay: “…Thì chị cũng sẽ về với em,
Để mừng ngày em xuất giá.
Cho vui lòng ba với má,
Chị cũng nở mặt nở mày với lối xóm bà con…”. (Nửa đời hương phấn)

Lại có những lời văn đẹp như một bài thơ:

“Mới đầu hôm mà tóc ta bạc gần nửa mái,
Mới đầu hôm mà rượu cạn mấy mười ly.
Mới đầu hôm mà sự thế đổi thay…”. (Thuyền ra cửa biển)

Hơn thế nữa, có những câu xứng đáng là danh ngôn:

“Thà ngu như con thiêu thân mà chết ngoài ánh sáng,
Còn hơn khôn như con chuột mà chết trong ống cống”. (Tấm lòng của biển) Chúng tôi nhớ, sau khi vai Tấn (Hữu Phước đóng), nói câu nầy thì cả rạp vỗ tay rần rần. Một ông ngồi kế bên buộc miệng: “Coi cải lương mà nghe “văn chương” không cũng đủ đồng tiền!”.

Những bài ca như vậy, đến nay đã hơn bốn mươi năm mà vẫn còn có người thuộc lòng và thường hát.
Xã hội càng phát triển thì tầm thưởng thức nghệ thuật của khán giả cũng có sự đòi hỏi cao hơn, nếu các tác giả thời nay không chịu nắm bắt điều nầy thì khó thành công; ngược lại, vô hình trung coi thường khán giả và tất nhiên sẽ bị khán giả quay lưng!

Sau năm 1975, nhất là các thập niên gần đây cải lương bị mai một dần, biểu hiện dễ thấy nhất là cảnh khán giả chen nhau mua vé ngày càng xa lạ. Tại sao vậy? Có người đổ cho khách quan với lý do chỉ vì băng đĩa quá tiện lợi và rẻ tiền nên người ta không đến rạp nữa.

Nói như vậy thì có phần thiếu thuyết phục và có ý bênh vực cho môn nghệ thuật trên đường suy tàn. Hỏi lại, dù không đến rạp, ở nhà họ vẫn coi cải lương trên tivi? Câu trả lời rất sượng sùng là… rất ít người coi! (mà người coi là những lứa tuổi già nua còn sót lại).

Tại sao thế? Như đã phân tích ở trên, cải lương lúc trước được ưa chuông là nhờ ba yếu tố: Diễn viên thiện nghệ, soạn giả tài ba và kịch bản xuất sắc.

Cải lương ngày nay, với nghệ sĩ, có người cũng có huy chương vàng nầy nọ, nhưng lối diễn và giọng ca chưa làm người xem vừa ý. Ví dụ như một nữ nghệ sĩ quá “điệu”, làm duyên làm dáng thái quá, khiến người coi phải “mắc cở giùm”; hay có một nam nghệ sĩ giọng ca eo éo như con gái, diễn xuất với chân tay cứng ngắt, diễn như vậy làm sao tồn tại với tầng lớp khán giả có tầm mức thưởng thức như hiện nay? Mới hay, huy chương là một đường, còn ca diễn đi vào lòng người mới là đích thực.

Về soạn giả và kịch bản (thường vốn đi đôi) thì rõ là một vấn đề đã bàn nhiều, song vở tuồng để lại trong lòng công chúng thì không đáng kể!

Điều cần nói thêm là, người xem cải lương ngày nay rất bực mình về câu vọng cổ đã bị soạn giả phá đi nét truyền thống, nhào nắn thành dị hình dị dạng: Ca sĩ phải nổi gân cổ “nuốt” hơn một trăm chữ trước khi “xuống hò” (câu 1). Đó là sự chế biến lập dị, làm người ca mệt, mà người nghe/xem cũng “mệt”, ngao ngán, chán chường! Các soạn giả ấy đã cố tình “làm cho lạ”, nhưng đã vô tình làm cho bản vọng cổ hết… “muồi”, vốn là sở trường của cổ nhạc.

Cải lương càng ngày càng vắng khách, kể cả những người lớn tuổi ở quê, vốn là thành phần “mê” cải lương nhất, giờ họ cũng lơ là.

Trên đây là những cảm nhận từ hàng ghế khán giả hơn là người trong nghề, vì vậy sự chủ quan sẽ không tránh khỏi. Thế nhưng, với ý thức dân tộc về một loại hình nghệ thuật – cải lương – bài viết này như tiếng lòng.

Theo: ( Kha Tiệm Ly  Ấp Bắc)

Nghệ sĩ sân khấu Ngày ấy… bây giờ

Năm 1963, sáu nghệ sĩ cùng đoạt giải Thanh Tâm là Bạch Tuyết, Mộng Tuyền, Trương Ánh Loan, Tấn Tài, Thanh Tú, Diệp Lang. Trong số đó, có thể nói NSƯT Bạch Tuyết là người vẫn còn làm nghề cho tới bây giờ.
Nhận giải năm 18 tuổi

Giải Thanh Tâm đến tay Bạch Tuyết khi chị đang hát cho đoàn Út Trà Ôn, vở Tàn một kiếp hoa, lúc vừa 18 tuổi. Một cô bé sớm mồ côi mẹ, rồi cha gửi đi học trường dòng, sống theo nền nếp của các ma sơ, rồi học trung học, được giới thiệu làm quen với những tay đàn cự phách như Ba Luông, Chân Vân, Vũy Chỗ, lân la xin hình nghệ sĩ sau mỗi đêm diễn cải lương, khi rảnh thì ngồi vẽ hình Út Bạch Lan, Thẩm Thúy Hằng, Thanh Nga trên giấy cho… đỡ nhớ. Thật sự chưa bao giờ Bạch Tuyết nghĩ sẽ theo nghề hát. Vậy mà, vẫn theo, như một định mệnh.

16 tuổi bước vào cánh màn nhung, hát tỉnh được hơn 1 năm thì nghệ sĩ Út Trà Ôn đem về hát chung với ông ở đoàn Thống Nhất do ông làm bầu, khoảng 1 năm sau thì đoạt ngay giải thưởng. Con đường nghệ thuật sao mà sáng sủa đến mức ngỡ trong mơ. Chưa kể, vài năm sau đó chị lại đoạt giải Kim Khánh và được phong “Cải lương chi bảo”. Dồn dập những niềm vui…

 

NSƯT Bạch Tuyết vai Thái hậu Dương Vân Nga 

Nhưng Bạch Tuyết nói: “Thật sự tôi không quá vui như mọi người tưởng. Tôi sống với các ma sơ, quen được rèn luyện tính kỷ luật, biết kiềm chế, vui buồn gì cũng không quá bung ra, mà bình tĩnh nhận lấy. Buồn quá cũng không gục ngã, vui quá cũng không kiêu căng. Sau này khi tiếp cận Phật giáo, tôi mới biết đó là tính thiền, thong dong tâm trí”. Chị rung động nhất là lần được nghệ sĩ Thanh Nga trao tặng huy chương. Đó là người mà chị ái mộ cho mãi đến sau này.

Được giải thưởng, Bạch Tuyết vẫn không thay đổi. Chị nói: “Tôi thường lân la chơi với mấy cô chuyên múa vũ trong đoàn và mấy anh nhạc sĩ. Bởi mình vẫn còn phải học hỏi dài dài chứ không được lơ là”.

Sau giải Thanh Tâm, hợp đồng của Bạch Tuyết lên vù vù, tính ra vàng thì có thể mua mấy căn nhà một lúc. Và đoàn Dạ Lý Hương ngấp nghé mời chị. Về Dạ Lý Hương, Bạch Tuyết cùng với nghệ sĩ Hùng Cường đã làm nên “cặp sóng thần”, bán vé  không thể tả, và tốn biết bao giấy mực của báo chí. Rồi Bạch Tuyết về đoàn Tấn Tài một thời gian, sau đó ngưng hát để… đi học. Mãi đến khi nghệ sĩ Thanh Nga mất, Nhà hát Trần Hữu Trang mời chị xuất hiện trở lại trong vở Dương Vân Nga, và tiếp theo là Đời cô Lựu, lại gây một phen xôn xao dư luận.

Nghệ sĩ… tài tử

Thực sự, Bạch Tuyết không hề hát liên tục năm này qua tháng nọ, mà chị cứ đứt quãng từng chặng. Đang hát nửa năm với Út Trà Ôn, chị đòi nghỉ để ôn thi tú tài. Hồi xưa nhà nghèo, nên vừa học xong lớp đệ tứ (lớp 10 bây giờ), chị phải theo gánh hát. Đi hát mà cứ thèm học, cứ mơ trở lại trường, lấy bằng tốt nghiệp. Cho nên, khi vừa có tiền kha khá là chị nghỉ, có khi nửa năm, có khi 1 năm, thậm chí để lấy bằng cử nhân văn khoa hoặc bằng thạc sĩ, tiến sĩ, chị không ngần ngại nghỉ hát luôn mấy năm trời. Học tới chừng nào “đã” thì thôi. Chuyện hát thì còn đó, lo gì. Và mỗi lần tái xuất, chị lại có những vai rất hay, khán giả ấn tượng mạnh mẽ. Hát kiểu đó quả là… tài tử!

 

 

Nghệ sĩ Thanh Nga trao huy chương vàng Thanh Tâm cho nghệ sĩ Bạch Tuyết (trái)

Bạch Tuyết cười: “Tôi không thích làm trối chết, dù là đang giai đoạn hái ra tiền. Cứ thong dong chọn cái gì mình thích. Đời ngắn ngủi lắm, có bao nhiêu tiền cũng không bù được tri thức. Tới giờ này, tôi vẫn còn tự học bằng cách đọc rất nhiều”. Có lẽ đó là một trong những điểm khiến Bạch Tuyết khác biệt với nhiều nghệ sĩ. Có người thích thì khen chị nỗ lực vươn lên, làm tự hào cho nghệ sĩ cải lương vốn bị xem là ít học. Người không thích thì chê bai chị. Chị biết hết. Và lại cười: “Ở sao cho vừa lòng người! Mình biết mình hạnh phúc là được rồi!”.

Mấy chục năm nay, nghệ sĩ Bạch Tuyết làm giám khảo cho rất nhiều cuộc thi cải lương. Chị tìm thấy hình ảnh của mình ngày xưa, cho nên vừa nghiêm túc, công bằng, lại vừa ân cần dìu dắt. Chị dìu dắt cả những đàn em đang học ở các trường nghề có khoa văn hóa phương Đông và ở trường sân khấu chuyên nghiệp. Tranh thủ thời gian rảnh, chị viết trường ca cải lương, kịch bản cải lương, viết sách Phật giáo. Hình như chị chưa có tuổi già dù đã 66 tuổi.

Từ 1991 đến nay, giới cải lương có một giải thưởng lớn là giải Trần Hữu Trang. Thực ra, giải này là sự tiếp nối của giải Thanh Tâm (ra đời năm 1958, đến 1968 mới chấm dứt).
Sau khi ra mắt, giải Thanh Tâm trở nên danh giá trong làng sân khấu. Ngoài tiêu chuẩn ca diễn xuất sắc, giải Thanh Tâm còn đòi hỏi tiêu chuẩn đạo đức, cho nên nghệ sĩ luôn rèn luyện, phấn đấu. Việc chấm giải rất lạ, không hề có một cuộc thi nào diễn ra. Ban giám khảo sẽ đi xem tất cả các vở tuồng trong năm, chọn ra tuồng hay, nghệ sĩ giỏi rồi cuối cùng mới ngồi lại bình bầu. Vì thế, nghệ sĩ phải luôn trong tư thế “thi” suốt cả năm, hết năm này lại năm khác, hết suất này tới suất khác. Thậm chí phải luôn sống tử tế, vì chỉ cần tai tiếng là coi như bị loại.

Nghệ sĩ Thanh Nga là người duy nhất nhận giải Thanh Tâm lần đầu tiên.

Hoàng Kim
(Theo Thanh Niên)

Con gái cố nghệ sĩ Kim Ngọc chịu lỗ dựng vở ‘Thái hậu Dương Vân Nga’

Nghệ sĩ Kim Ngân đầu tư 800 triệu đồng tái dựng vở cải lương kinh điển dù biết tiền bán vé không đủ bù vốn.

Sáng 6/4, tại TP HCM, đạo diễn – Nghệ sĩ Ưu tú Hoa Hạ và nghệ sĩ Kim Ngân – con gái cố nghệ sĩ Kim Ngọc – ra mắt dự án tái dựng vở Thái hậu Dương Vân Nga, công diễn ngày 6 và 13/5 tại nhà hát Bến Thành, quận 1. Vở mới có sự tham gia của nghệ sĩ Phượng Loan, Lê Tứ, Chí Linh, Kim Ngân, Hồng Tơ, Đại Nghĩa, Quỳnh Hương, Điền Trung, Thanh Thảo, Gia Bảo… cùng hai ca sĩ Phương Thanh và Quốc Đại. Dự án nhằm kỷ niệm 100 năm ra đời của bộ môn cải lương.

Nghệ sĩ Kim Ngân là con gái của cố nghệ sĩ Kim Ngọc và là chị của diễn viên Hiều Hiền. Chị từng theo mẹ diễn tấu hài, rồi được bà gửi sang đoàn ca múa nhạc Hương Miền Nam học nghề. Sau này lập gia đình, Kim Ngân chuyển sang kinh doanh, ít biểu diễn. Gần đây, chị trở lại làng sân khấu và ấp ủ tái dựng các vở cải lương kinh điển. Ý tưởng được đạo diễn Hoa Hạ ủng hộ nhiệt tình. Cả hai bắt tay cùng làm vở Thái hậu Dương Vân Nga với tổng kinh phí là 800 triệu đồng. Hoa Hạ chia sẻ nếu bán hết số vé ở hai đêm tại nhà hát, tiền thu tối đa cũng chỉ 600 triệu đồng. “Dù cầm chắc lỗ vốn, chúng tôi vẫn muốn dùng tiền túi thay vì xin tài trợ, bởi khát khao phục dựng một tác phẩm xưa”, đạo diễn bày tỏ.

 

Nghệ sĩ Kim Ngân trong tạo hình Thái hậu Dương Vân Nga. 

Đạo diễn từng nghiên cứu vở của NSND Bạch Tuyết và NSND Ngọc Giàu. Chị đánh giá cả hai diễn quá hay, vì vậy, lặp lại thành công của các cây đa cây đề là điều không thể. Bản dựng mới sẽ xoáy sâu vào chi tiết các trung thần đau đáu về việc ngôi báu và long bào của Đinh Tiên Hoàng được trao lại cho Lê Hoàn. Đạo diễn đặt niềm tin vào Đại Nghĩa và Xuân Trang – hai diễn viên đóng vai trung thần – cùng hai nghệ sĩ đóng vai thái hậu vì họ có lối ca diễn chân phương, mộc mạc. Nghệ sĩ Ưu tú Phượng Loan – Lê Tứ sẽ diễn vai Thái hậu Dương Vân Nga – tướng quân Lê Hoàn ở màn một, màn hai. Nghệ sĩ Kim Ngân và Chí Linh sẽ diễn hai nhân vật này ở màn ba, màn bốn. Hoa Hạ cho biết không áp lực khi dựng lại vở kinh điển vì sẽ thực hiện một phiên bản mới, khác với các bản cũ của cố Nghệ sĩ Ưu tú Thanh Nga, Nghệ sĩ Nhân dân Bạch Tuyết…

 

Đạo diễn Hoa Hạ chia sẻ ở sự kiện.

Trang phục chương trình do nghệ sĩ Công Minh thực hiện với các thiết kế thêu tay và vẽ thay vì chất liệu kim sa như các vở trước. Âm nhạc do nhạc sĩ Thái An đảm nhận. Vở được bán với giá vé từ 300 nghìn đến một triệu đồng. Êkíp còn dành 250 ghế trên lầu với mức giá trên 100 nghìn đồng cho khán giả là học sinh, sinh viên. Trước việc mời Phương Thanh diễn dù giọng ca này từng gây tranh cãi khi hát cải lương, đạo diễn cho biết trong các vở trước như Kim Vân Kiều, Chiếc áo thiên nga, Phương Thanh tạo hiệu ứng khán giả tốt, được vỗ tay nhiều lần khi xuất hiện. Chị kỳ vọng Phương Thanh và Quốc Đại là nhân tố tạo thêm nét mới cho tác phẩm. Cả hai đóng vai phụ.

NSND Bạch Tuyết diễn lại vở Thái Hậu Dương Vân Nga

 

 

Vở Thái hậu Dương Vân Nga ra mắt năm 1977 tại đoàn cải lương Thanh Minh -Thanh Nga (tác giả Hoa Phượng – Chi Lăng – Hoàng Việt – Thể Hà Vân, phỏng theo kịch bản chèo của Trúc Đường, đạo diễn Chi Lăng). Vở diễn kể lại giai đoạn sau khi Đinh Tiên Hoàng qua đời, Thái hậu Dương Vân Nga nắm quyền nhiếp chính, rồi trao lại long bào cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn. Ông lên ngôi, lấy hiệu là Lê Đại Hành, lập nên nhà Tiền Lê, đánh tan quân Tống.

Thái hậu Dương Vân Nga là vai diễn cuối của cố NSƯT Thanh Nga. Sau khi bà qua đời năm 1978, nghệ sĩ Kim Hương diễn thay vai này trong đoàn Thanh Minh – Thanh Nga. Sau đó, các nghệ sĩ như Bạch Tuyết, Ngọc Giàu… tiếp tục đảm nhận nhân vật.

Nguồn: Tam Kỳ/Vnexpress

Truyền dạy Hát Xoan trong cộng đồng các phường Xoan gốc

 Công tác đào tạo nghệ nhân kế cận và truyền dạy Hát Xoan trong cộng đồng là nhiệm vụ quan trọng được ưu tiên hàng đầu trong Đề án bảo tồn Hát Xoan giai đoạn 2013 – 2020 và Kế hoạch bảo tồn và phát huy di sản Hát Xoan hằng năm. Đây cũng là yếu tố có tính quyết định đến sự bền vững cho việc bảo tồn lâu dài của di sản Hát Xoan, phát huy vai trò của các nghệ nhân cao tuổi đào tạo các nghệ nhân trẻ. Xác định được tầm quan trọng đó, những năm qua, các phường Xoan gốc luôn duy trì các lớp học hát Xoan với  4 – 5 thế hệ, từ các học sinh  6 – 7 tuổi  đến nghệ nhân cao niên 80 – 90 tuổi. Tại các lớp truyền dạy, các thế hệ đào, kép đã cùng nhau trao truyền kỹ năng trình bày các lời ca, điệu múa nhằm khơi dậy niềm đam mê của mỗi thế hệ đối với Hát Xoan.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Lịch và các thành viên phường Xoan An Thái biểu diễn Hát Xoan tại đình Hùng Lô

 

Không phải tới khi di sản Hát Xoan được công nhận, các nghệ nhân mới nghĩ đến việc truyền dạy Hát Xoan cho các thế hệ sau mà họ đã âm thầm làm công việc đó trong suốt nhiều năm qua. Đến nay, Hát Xoan đã được đông đảo bạn bè thế giới biết đến và yêu mến, phong trào học, nghe và biểu diễn Hát Xoan đã trở thành một phong trào rộng khắp trong toàn tỉnh. Cuộc sống của những nghệ nhân Hát Xoan ngày càng bận rộn hơn bởi vừa đi truyền dạy cho các lớp học ở nhiều nơi trong tỉnh vừa tiếp tục duy trì, mở rộng những lớp Hát Xoan cho các em nhỏ ở phường Xoan của mình. Trong ngôi nhà nhỏ đã bao đời nay gắn bó với câu ca di sản, Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thị Lịch – Trùm phường Xoan An Thái, xã Phượng Lâu, thành phố Việt Trì đang truyền lửa Hát Xoan cho thế hệ trẻ. Nhìn hai anh em Bùi Việt Hào (8 tuổi) và Bùi Như Quỳnh (6 tuổi) đang tập trung cao độ ôn lại làn điệu Hát Xoan theo nghệ nhân truyền dạy mới thấy Hát Xoan ngày càng có sức hút với giới trẻ.
May mắn sinh ra ở phường Xoan gốc, lại có ông nội, bà ngoại và mẹ đều gắn bó với Hát Xoan, nên ngay từ nhỏ, Bùi Việt Hào, Bùi Như Quỳnh đã được làm quen với làn điệu Hát Xoan. Từ những buổi theo ông bà, theo mẹ đi tập luyện, biểu diễn, đến điệu hát ru đưa em vào giấc ngủ, cứ thế, câu Xoan đã ngấm dần, nhen nhóm tình yêu và đam mê trong các em.Dù ít tuổi là thế, nhưng Hào và Quỳnh đã thuộc lòng và biểu diễn được gần hết 31 bài Hát Xoan với những lời cổ rất khó học, khó nhớ. Hai anh em cùng với các nghệ nhân, thành viên của phường Xoan An Thái tích cực tham gia các chương trình biểu diễn, các hội thi, hội diễn phục vụ giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội đền Hùng hằng năm và biểu diễn phục vụ du khách trong và ngoài nước góp phần bảo tồn, phát huy di sản Hát Xoan.
Theo nghệ nhân Nguyễn Thị Lịch, việc truyền dạy cho thế hệ trẻ đã được phường Xoan An Thái triển khai hiệu quả. Bà đã dồn hết tâm huyết của mình để truyền lại những gì tinh túy nhất của làn điệu Xoan cho thế hệ sau với hy vọng sẽ gây dựng những hạt giống trong làng Xoan tương lai. Học hát Xoan là phải tập luyện bài bản, theo lề lối. Có như vậy mới bảo tồn được nguyên gốc, một trong những giá trị cốt lõi mà tỉnh Phú Thọ cam kết với UNESCO. Điều này đòi hỏi sự kiên trì, khéo léo của những nghệ nhân truyền dạy. Vì vậy, có những lớp chỉ diễn ra trong thời gian ngắn nhưng bà đã dồn hết tâm huyết để chỉ dẫn cho các học viên nắm đúng lời hát, điệu múa.
Rời phường Xoan An Thái, hình ảnh cô bé Trần Thị Linh mới 3 tuổi đang cùng với các anh chị luyện tập Hát Xoan mới thấy hết được tình yêu người dân nơi đây dành cho Xoan. Và đó cũng chính là nguồn động viên tinh thần lớn nhất nhất để những nghệ nhân như  bà Nguyễn Thị Lịch tiếp tục bền bỉ trao truyền, giữ cho ngọn lửa Xoan ngày càng bừng sáng.
Các em nhỏ phường Xoan Kim Đái biểu diễn Hát Xoan phục vụ du khách tại Miếu Lãi Lèn
Cứ vào chủ nhật hằng tuần, đình làng thôn Kim Đái lại rộn ràng tiếng hát, tiếng trống. Là 1 trong 3 phường Xoan gốc của xã Kim Đức, phường Xoan Kim Đái có trên 60 thành viên. Hoạt động của phường Xoan Kim Đái rất đều đặn. Ông Trùm vừa là thầy dạy nghệ thuật hát Xoan, vừa là người tổ chức các cuộc trình diễn và lưu diễn của phường Xoan đi khắp các đình làng trong vùng. Thành viên của phường Xoan đủ độ tuổi, trong đó các cụ cao niên trên 80 tuổi, nhỏ tuổi nhất chỉ 7 tuổi. Dưới sự chỉ dạy nhiệt tình của các nghệ nhân, không biết từ bao giờ lớp con trẻ trong thôn đã say mê bộ môn nghệ thuật truyền thống này. Em Nguyễn Thị Yên, xã Kim Đức chia sẻ: “Khi được các bà, các chú chỉ dẫn em cảm thấy rất vui và như được thêm những kiến thức về Hát Xoan, những điệu múa Hát Xoan”.
Anh Nguyễn Văn Quyết – Trùm phường Xoan Kim Đái cho biết: “Là lớp hậu bối được các cụ nghệ nhân truyền dạy nghệ thuật Hát Xoan, tôi luôn trách nhiệm giữ gìn truyền dạy cho các em thanh thiếu niên trong làng. Đến nay, các thành viên trong phường đã trình diễn thành thục các điệu Hát Xoan và thường xuyên tham gia biểu diễn tại các chương trình giao lưu, các cuộc thi trong và ngoài tỉnh. Để duy trì hoạt động của phường Xoan, thời gian tới, chúng tôi phối hợp với các khu dân cư trong xã tiếp tục mở lớp truyền dạy cho các em thiếu niên nhi đồng yêu thích Hát Xoan để giữ gìn, lưu truyền, phổ biến, phát huy cho thế hệ mai sau những giá trị độc đáo mang tính xã hội, nhân văn, những phong tục, tập quán tốt đẹp về Hát Xoan”.
Nghệ nhân Bùi Thị Kiều Nga – phường xoan Thét, xã Kim Đức cho biết: “Không phải bây giờ tôi mới truyền dạy cho các em mà nhiều năm nay công việc truyền dạy cho các em trong xã đã trở thành phong trào rộng khắp. Nhiều em tuổi còn nhỏ nhưng đã thuộc lòng bàn tay cả 3 quả cách trong Hát Xoan. Tôi rất mừng là các em vẫn thích hát và say sưa với Xoan. Với trách nhiệm là người đứng đầu phường Xoan, tôi sẽ cố gắng huy động các cháu thanh thiếu niên trong làng tham gia vào các lớp truyền dạy Hát Xoan trong cộng đồng. Cùng với đó, phường Xoan Thét tập trung truyền dạy lớp nghệ nhân kế cận – đây chính là những người sẽ giữ và truyền lửa di sản cho các thế hệ sau”.
Trải qua hàng nghìn năm, Hát Xoan nhiều lúc đứng trước nguy cơ bị mai một, thất truyền. Thế nhưng loại hình nghệ thuật truyền thống này vẫn có sức sống mạnh mẽ và lâu bền. Có được điều này là nhờ vào sự hoạt động kiên trì của những phường Xoan gốc. Ông Nguyễn Đắc Thủy – Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết: “Các nghệ nhân cao tuổi, các trùm phường Xoan gốc đã tổ chức truyền dạy cho thế hệ trẻ một cách trách nhiệm và nhiệt tình, họ truyền dạy ở nhiều không gian khác nhau, có thể tổ chức truyền dạy ở nhà, đình, miếu và tổ chức tại các không gian khác ở những lớp học. Và như vậy sự tiếp nhận của thế hệ trẻ được đa dạng mọi lúc, mọi nơi”.
Để các phường Xoan gốc hoạt động tích cực và hiệu quả, đặc biệt phải giữ nguyên bản sắc của mình mà không chịu sự tác động từ bên ngoài, UBND tỉnh đã hỗ trợ các phường Xoan để họ điều hành và chủ động tổ chức truyền dạy Hát Xoan cho lớp nghệ nhân kế cận và trong cộng đồng với nền tảng vững chắc, tăng nhanh số lượng người nắm vững Hát Xoan và lớp khán giả của Hát Xoan lên nhiều lần. Các di tích lịch sử gốc có liên quan đến môi trường hoạt động của Hát Xoan, thờ cúng Vua Hùng như: Miếu Lãi Lèn, đình Thét, đình An Thái, đình Kim Đái đã được khôi phục, trùng tu để tạo lại vị thế cho Hát Xoan trong lễ hội, nghi thức, phong tục và tạo không gian văn hóa, môi trường diễn xướng, đảm bảo sự phát triển bền vững của di sản Hát Xoan.
 Nguồn: Theo Hương Giang/ Phu Tho Gov

Cải lương qua 1 thế kỷ: Thời hoàng kim và thế hệ vàng

Cải lương có lẽ phát triển rực rỡ nhất vào khoảng giữa thập niên 1950 đến giữa thập niên 1970. Giai đoạn này xuất hiện một thế hệ nghệ sĩ tuyệt vời mà sau này mọi người thường gọi là ‘thế hệ vàng’, nay vẫn khắc sâu trong lòng khán giả.

Nghệ sĩ Chí Tâm và NSƯT Thanh Kim Huệ trong vở Lan và Điệp

Những ông vua không ngai
Trước đó, cải lương đã có một thế hệ nghệ sĩ quá giỏi, nhưng đến thập niên 50 – 60 – 70 thế kỷ trước thì “thế hệ vàng” được ghi nhớ nhiều nhất. Có thể điểm qua những cái tên vô cùng quen thuộc như: Út Trà Ôn, Hữu Phước, Út Bạch Lan, Thành Được, Thanh Nga, Tấn Tài, Phượng Liên, Hùng Cường, Bạch Tuyết, Dũng Thanh Lâm, Thanh Sang, Thanh Hải, Thanh Kim Huệ, Thanh Tuấn, Lệ Thủy, Chí Tâm, Mỹ Châu, Minh Phụng, Minh Vương, Minh Cảnh, Ngọc Giàu, Thanh Thanh Hoa, Diệu Hiền, Ngọc Hương, Ngọc Bích, Thanh Nguyệt, Hồng Nga, Bạch Lê, Văn Hường…
Mỗi nghệ sĩ có một chất giọng đặc sắc không trộn lẫn với ai, họ đã làm nên những câu vọng cổ và tuồng cải lương để đời. Ai không có giọng ca mùi như Diệp Lang, Nam Hùng, Hùng Minh, Hoàng Giang, Bảo Quốc, Kim Ngọc, Kiều Mai Lý, Văn Chung, Trường Xuân chẳng hạn, thì lại có khả năng đóng độc lẳng hoặc đóng hề cực kỳ giỏi, với giọng thoại nhấn nhá rất điêu luyện, làm nên những nhân vật trong các tuồng cải lương hấp dẫn.
Thời ấy, báo chí và khán giả đã phong cho nhiều nghệ sĩ những danh hiệu rất hay, nên có nhiều “ông vua không ngai” xuất hiện. Út Trà Ôn với chất giọng chân phương đúng chất người Nam bộ, được gọi là “Vua vọng cổ” vì ông ca nhiều bài đến mức kỷ lục. Út Bạch Lan thì tha thiết, u buồn, nên người ta gọi bà là “Sầu nữ”. Thanh Hải ngâm thơ theo giọng Tao đàn cực kỳ quyến rũ nên được phong “Vua Tao đàn”. Thanh Nga là “Nữ hoàng cải lương” vì bà sang trọng, lộng lẫy, tài sắc vẹn toàn. Tấn Tài là “Hoàng đế đĩa nhựa”. Bạch Tuyết là “Cải lương chi bảo” vì bà diễn quá điêu luyện. Minh Phụng được mệnh danh “Hoàng tử cải lương” vì đẹp trai, lên sân khấu khiến mê mẩn người xem…
Rồi thì lối ca diễn đặc biệt của “thế hệ vàng” cũng đã khắc sâu vào lịch sử cải lương. Minh Vương giọng cao vút, réo rắt ngọt ngào, đoạt Khôi nguyên Vọng cổ. Lệ Thủy trong veo như hồn nhiên cùng cuộc đời. Thanh Kim Huệ luyến láy bất ngờ, giọng ca trẻ mãi không già. Thanh Sang trầm ấm, chững chạc. Thanh Tuấn điêu luyện trong nhả chữ, bay lượn. Ngọc Hương buồn da diết, nhói lòng. Mỹ Châu giọng trầm không ai qua nổi, và có cách xuống câu vọng cổ lạ vô cùng. Ngọc Giàu ca như nhung căng lụa trải…
Những người “đo ni đóng giày” cho nghệ sĩ
Vọng cổ và cải lương giai đoạn này đi song song, xuất hiện rất nhiều bài hay và tuồng hay. Một thế hệ soạn giả vàng cũng ra đời, có biệt tài “đo ni đóng giày” cho nghệ sĩ. Đầu tiên là soạn giả Viễn Châu. Ông đã viết hơn 2.000 bài vọng cổ và hơn 50 vở cải lương, giúp nghệ sĩ thăng hoa. Út Trà Ôn với Tình anh bán chiếu bất hủ. Minh Cảnh với Võ Đông Sơ. Ngọc Giàu với Đêm tàn Bến Ngự… Dấu ấn rất lớn của Viễn Châu là ông đã sáng tạo ra thể loại tân cổ giao duyên, đưa vọng cổ lên một bậc phát triển mạnh mẽ. Nhiều bài tân cổ giao duyên của các tác giả khác cũng đã chiếm lĩnh thị trường như Câu chuyện đầu năm (Minh Vương – Thanh Kim Huệ ca), Thương về miền Trung (Thanh Tuấn ca), Nỗi buồn hoa phượng (Minh Phụng – Hương Lan ca), Trương Chi Mỵ Nương (Mỹ Châu – Thanh Tuấn ca)…

Nguồn: Theo báo Thanh niên

‘Khảy nhịp tang tình’ – show văn hóa về diễn xướng Nam bộ

Chương trình có các tiết mục hát xướng và bình phim tài liệu của nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng.

Khảy nhịp tang tình là đêm mở đầu của Diễn xướng Nam bộ – chuỗi chương trình biểu diễn nghệ thuật, khảo luận văn hóa, có nội dung giới thiệu các hình thức diễn xướng dân gian đã và đang tồn tại ở miền Nam.

Ngoài các đoạn hát xướng, hò, Khảy nhịp tang tình còn có phần bình phim tài liệu Gia Định – Sài Gòn: Điệu hát, câu hò ngày ấy của diễn giả, nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng. Diễn giả sẽ khái quát về sự hình thành và phát triển của Nam Bộ cùng tổng quan văn hóa Nam Bộ, các loại hình diễn xướng cơ bản: trữ tình dân ca, tự sự dân gian, múa lốt… Chương trình diễn ra tại Soul Live Project (TP HCM) tối 8/4.

 

Sinh năm 1952 tại Quảng Ngãi, nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng là tác giả và đồng tác giả của hơn 70 công trình nghiên cứu, đầu sách. Chiếm phần quan trọng trong số này là các sách về văn hóa, mỹ thuật và tâm linh, tín ngưỡng của vùng đất Nam bộ.”Mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn với sự phát triển kinh tế và xã hội khác nhau sẽ tạo nên những trào lưu văn hóa khác nhau do cộng đồng sống trong thời cuộc đó lựa chọn”, nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng nói. Theo ông, nhiệm vụ của Diễn xướng Nam Bộ là giới thiệu những nét văn hóa người Việt xưa từng yêu thích và giải thích những nét đặc trưng của các trào lưu ấy để bạn trẻ hiểu thêm văn hóa dân tộc. “Chúng ta chỉ bày thêm nhiều món ăn văn hoá có hương vị khác nhau và để quyền lựa chọn thưởng thức cho khán giả”, ông Huỳnh Ngọc Trảng chia sẻ.

Nguồn: Theo Vnexpress.

Cải lương qua 1 thế kỷ: Những vở ấn tượng sau 1975

Sau năm 1975, cải lương có đôi chút thay đổi, nhưng rồi lại hoạt động sôi nổi. Nhiều vở hay, vai diễn để đời, nhiều nghệ sĩ tiếp tục bật sáng.

 

Phương Quang và Thanh Vy trong vở Nàng Xê Đa

Phối hợp các thành phần nghệ sĩ
Giai đoạn sau giải phóng, mô hình cải lương tư nhân không còn nữa, mà các đoàn phải hoạt động theo mô hình tập thể. Bà bầu không còn một mình quản lý đoàn như trước, mà ban lãnh đạo có thêm một vài cán bộ từ Sở Văn hóa – Thông tin đưa xuống. Cách quản lý, cách trả lương, trả cát sê, ký hợp đồng tất nhiên cũng khác. Bên cạnh đó là đoàn nhà nước ra đời, gồm Nhà hát Trần Hữu Trang và đoàn Văn công TP.HCM. Đến năm 1984, có thêm đoàn 284 được thành lập sau chuyến đi biểu diễn ở châu Âu thành công rực rỡ.
NSND Lệ Thủy kể: “Hồi mới giải phóng nghệ sĩ chúng tôi lo lắm. Lo vì sợ mình bị ra rìa, không cho hát. Các đoàn tạm ngưng, nghệ sĩ đóng cửa ngồi nhà mà rầu, không biết mai mốt mình làm gì ăn, vì chỉ biết mỗi nghề hát thôi. Nghe nghe ngóng ngóng rồi tự nhiên một tháng rưỡi sau thì được mời ra, được đi họp, nói là các đoàn cứ hoạt động trở lại bình thường. Mừng quá trời đất!”.
Các đoàn lúc ấy thường gồm ba thành phần nghệ sĩ. Một từ Sài Gòn như Diệp Lang, Thanh Sang, Thanh Nga, Lệ Thủy, Thanh Tuấn, Mỹ Châu… Hai là nghệ sĩ miền Nam, miền Trung đi tập kết, như Lê Thiện, Tấn Đạt, Công Thành, Thanh Xuân…, hoặc hoạt động trong chiến khu như Kim Anh, Thanh Liễu, Như Ngọc, Đoan Phượng… Ba là nghệ sĩ “rặt người bắc” nhưng tham gia cải lương như Thanh Vy, Hà Quang Văn, Mạnh Dung, Thanh Dậu… Lực lượng mạnh nhất vẫn tập trung ở Nhà hát Ca kịch cải lương Trần Hữu Trang (sau đổi lại thành Nhà hát Trần Hữu Trang).
Dựng vở mang đề tài chống ngoại xâm
Thực sự nhiều vở diễn hay đã ra đời trong vòng 15 năm đầu sau 1975, nổi lên một loạt vở lịch sử chống xâm lăng hào hùng và cảm động, trong đó Tiếng trống Mê Linh và Thái hậu Dương Vân Nga là ngòi nổ đầu tiên. 1.000 năm chống giặc phương Bắc đã để lại biết bao tấm gương anh hùng cho cải lương khai thác. Sau cú hích của đoàn Thanh Nga, hầu như đoàn nào cũng dựng vở lịch sử, mà dựng rất hay, như Nhụy Kiều tướng quân, Gánh cỏ sông Hàn, Tâm sự Ngọc Hân, Nhiếp chính Ỷ Lan, Nữ tướng cờ đào, Rạng ngọc Côn Sơn, Tô Hiến Thành xử án
Không chỉ Thanh Nga nổi tiếng lừng lẫy một lần nữa với những vai anh thư, mà các vở lịch sử còn phát hiện ra nhiều ngôi sao tự làm mới mình qua những nhân vật anh hùng. Ngọc Hương và Hoài Thanh bật sáng trong Gánh cỏ sông Hàn. Diệu Hiền thành nữ tướng Triệu Thị Trinh của vở Nhụy Kiều tướng quân và Hoài Thanh lại là anh kép đẹp mới toanh sáng vụt lên trong vai tướng quân Lê Minh dũng lược. Tâm sự Ngọc Hân cũng phát hiện ra một Nguyễn Huệ – Tuấn Thanh trẻ đẹp, ca hay, oai phong lẫm liệt. Từ vai này Tuấn Thanh cứ lọt vào mắt xanh các đạo diễn suốt mấy chục năm trời mỗi khi dựng vở lịch sử. Tô Hiến Thành xử án là câu chuyện đáng khâm phục khi người ta phải công tâm xử cả người thân để giữ gìn kỷ cương phép nước và bảo vệ giang sơn, mà nghệ sĩ Trường Sơn và Thanh Loan của làng Hồ Quảng đã diễn thật xuất sắc.
Loạt vở thứ hai thuộc chủ đề chống Pháp, Mỹ, cũng thành công vang dội. Bình Tây đại nguyên soái, Tiếng hò sông Hậu, Khách sạn hào hoa, Tìm lại cuộc đời, Ánh lửa rừng khuya, Người ven đô, Ánh sáng và bóng tối, Cây sầu riêng trổ bông, Tiếng sóng Rạch Gầm, Nàng Hai Bến Nghé, Trăng lên đỉnh núi... Bên cạnh đó là một số vở tố cáo xã hội cũ như Tô Ánh Nguyệt, Đời cô Lựu được tái dựng. Các nghệ sĩ cũ của Sài Gòn diễn rất hay, từ Thành Được cho tới Thanh Thanh Hoa, Mỹ Châu, Lệ Thủy, Thanh Tuấn, Thanh Hải, Hồng Nga… đều nhập vai rất xuất sắc.

Một mảng nữa là vở tâm lý, ca ngợi nhân nghĩa ở đời, châm biếm thói hư tật xấu, cũng rất ăn khách. Bên cầu dệt lụa là vở kinh điển nhất, để lại một hình tượng Quỳnh Nga (Thanh Nga đóng), Trần Minh (Thanh Sang), Nhuận Điền (Thanh Tú) đẹp ngời ngời nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Rồi Lục Vân Tiên đã làm mới cho Bạch Tuyết – Thanh Sang, trở thành những mẫu mực sau này các em trẻ dựa vào đó mà biểu diễn… Ngao Sò Ốc Hến đã phát hiện Thanh Kim Huệ, Thanh Điền, Giang Châu có khả năng hài đến bất ngờ. Nàng Xê Đa càng bất ngờ hơn với cô đào đất bắc Thanh Vy quá sang trọng và chuẩn mực trong ca diễn.

Vé chợ đen

” Có một điều rất lạ, giai đoạn này dù là thời bao cấp khó khăn, thậm chí phải ăn độn, nhưng khán giả TP.HCM vẫn ùn ùn đi xem cải lương. NSND Diệp Lang kể: “Vé vừa bán một, hai tiếng đồng hồ đã hết sạch. Chợ đen thì giá gấp 3 – 4 lần. Hồi đó nghệ sĩ có tiêu chuẩn 1 cặp vé mời, nhưng anh em tuồn ra ngoài bán chợ đen vì lương thấp lắm, nghèo lắm. Nhưng nghèo thì nghèo, lên sân khấu là phấn khởi, vì có tuồng hát cả trăm suất vẫn còn đông, thậm chí cả ngàn suất như Nàng Xê Đa, Ngao Sò Ốc Hến…”

Nguồn: Báo Thanh Niên

Tìm bài hát này:

  • Tải tân cổ nhuận điền và trần minh thanh sang

Dựng lại vở cải lương kinh điển ‘Đời cô Lựu’ kết hợp với… bolero

Vở cải lương kinh điển Đời cô Lựu của soạn giả Trần Hữu Trang sẽ trở lại với khán giả với sự tham gia của dàn nghệ sĩ gạo cội và đặc biệt là sự có mặt của những giọng ca bolero.

NSND Bạch Tuyết sẽ vào vai cô Lựu ‘phiên bản 2018

Trong khuôn khổ chương trình Tài danh đất Việt (tổ chức lần đầu năm 2015 với vở Nửa đời hương phấn), nghệ sĩ Gia Bảo (giám đốc sản xuất) đã quyết định dựng lại vở Đời cô Lựu nổi tiếng nhằm chào mừng sự kiện 100 năm cải lương hình thành và phát triển vào năm 2018. Điểm đặc biệt của vở diễn lần này là ngoài việc tái hiện đúng với bản dựng của NSND Huỳnh Nga thì còn có sự kết hợp với các tình khúc bolero quen thuộc.
Nghệ sĩ Gia Bảo cho biết việc chọn lựa các ca khúc bolero đưa vào vở diễn được tính toán sao cho hợp lý và “đắt” nhất để gây bất ngờ cho khán giả qua tiếng hát của Cẩm Ly, Phi Nhung, Lệ Quyên, Quốc Đại, Hoài Lâm… Trước những ý kiến lo ngại đưa bolero vào sẽ “phá” chất cải lương, Gia Bảo cho biết các tiết mục bolero xuất hiện vào những lúc chuyển cảnh để sân khấu không bị “chết” và giúp khán giả không bị đứt mạch cảm xúc khi chuyển cảnh.
Đặc biệt, các ca sĩ sẽ hóa thân thành nhân vật trong vở diễn, thể hiện một đoạn bolero hợp với phân cảnh lúc đó. Theo tiết lộ, Cẩm Ly sẽ vào vai cô Lựu ở lớp đầu. Hai lớp sau sẽ do nghệ sĩ hải ngoại Phượng Liên và NSND Bạch Tuyết đảm nhận. Có mặt trong buổi công bố hôm 26.12, nữ nghệ sĩ không giấu được sự xúc động. Bà cũng rất ủng hộ việc đưa bolero vào để tạo thêm chất xúc tác cho vở diễn.
Nghệ sĩ Gia Bảo, giám đốc sản xuất chương trình, chia sẻ về việc đưa bolero vào cải lương
Đời cô Lựu “phiên bản 2018” còn có sự tham gia của những gương mặt gạo cội như NSND Ngọc Giàu, NSƯT Minh Vương, NSƯT Thanh Điền, NSƯT Kim Tử Long, Thanh Hằng, Linh Tâm, Bạch Long… Bên cạnh đó, nghệ sĩ hải ngoại Chí Tâm (nổi tiếng với vai Điệp trong Lan và Điệp) đảm nhận vai Võ Minh Thành 20 năm sau. Đáng tiếc là vở diễn lại thiếu vắng môt số nghệ sĩ gạo cội như NSƯT Bảo Quốc (đang ở nước ngoài), NSND Thanh Tòng (đã mất) hay NSND Lệ Thủy do vấn đề sức khỏe…
Theo tiết lộ của Gia Bảo, kinh phí cho vở diễn lên đến 800 triệu đồng trong khi giá vé vẫn giữ nguyên từ 200.000 – 1 triệu đồng như hai năm trước. Cầm chắc từ lỗ đến hòa vốn nhưng nam nghệ sĩ hi vọng chương trình sẽ thu hút khán giả mộ điệu gần xa để chương trình có thêm nhiều vở diễn kinh điển nữa ra đời trong thời gian tới. Đời cô Lựu sẽ công diễn lúc 19 giờ 30 phút ngày 21 và 28.1.2018 tại Nhà hát Bến Thành (Q.1, TP.HCM).

Dựng lại vở Đường gươm Nguyên Bá

Vở cải lương nổi tiếng của soạn giả Hoa Phượng Đường gươm Nguyên Bá sẽ được NSƯT Hoa Hạ dàn dựng lại, với suất diễn duy nhất tại Nhà hát Trần Hữu Trang (rạp Hưng Đạo cũ, Q.1, TP.HCM) vào tối 31.3.

Vở diễn lần này vẫn giữ nguyên kịch bản gốc, với vai diễn sẽ do các nghệ sĩ đang được yêu mến hiện nay thể hiện như NSƯT Lê Tứ, Điền Trung, Hà Như, Dũng Nhí, Hoài Nam…; các nghệ sĩ Chuông vàng vọng cổ Võ Minh Lâm, Thu Vân, Thanh Toàn. Đặc biệt, vai Đông Sơn thiền sư trong vở, gắn liền tên tuổi nghệ sĩ nổi tiếng Chí Tâm (ảnh), lần này vẫn sẽ do ông thể hiện. Được biết, nghệ sĩ Chí Tâm sẽ rời VN từ giữa tháng 3 nhưng đã dời lại ngày xuất ngoại để tham gia vở diễn mà mình yêu mến này.

Nguồn: Theo báo Thanh niên

Vở chèo cổ ‘Tống Trân Cúc Hoa’ thu hút khán giả Hà Nội

Người xem lấp kín khán phòng tầng một Nhà hát Chèo Việt Nam và vỗ tay tán thưởng sau mỗi hồi diễn.

Nhà hát Chèo Việt Nam diễn vở Tống Trân Cúc Hoa do Đoàn Vinh đạo diễn cuối tuần qua. Trước giờ kéo màn, rất đông khán giả tập trung ở phòng bán vé ngoài sảnh nhà hát. Gần 300 vé bán ra không còn, nhân viên phải phát tập giấy mời cất trữ trong tủ làm vé vào cửa cho người xem.

Chị Lan – nhân viên phòng vé – cho biết vở chèo là một trong những tác phẩm tiêu biểu được nhà hát chọn biểu diễn vào thứ bảy cuối cùng của mỗi tháng trên sân khấu lớn (có sức chứa gần 1.000 chỗ ngồi). “Vé buổi diễn lớn thường được phát ra khoảng 300 đến 500. Những buổi như vậy người xem đến rất đông và thường xuyên kín ghế tầng một. Với vở Tống Trân Cúc Hoa, nhiều người đặt vé từ mấy tuần, gần sát giờ diễn họ mới đến lấy nên không còn vé. Chúng tôi phải phát giấy mời phục vụ những khán giả đến muộn”, chị nói.

Lượng khán giả đến xem đa phần là trung niên và cao tuổi, lấp đầy hàng ghế tầng một của Nhà hát. Buổi diễn kết thúc, nhiều người túm tụm lại và bàn tán sôi nổi về những vấn đề vở chèo đặt ra. Chân đi tập tễnh vì chứng đau khớp gối, khán giả Nguyễn Thị Tuyết (72 tuổi) len chậm ra ngoài. Bà chia sẻ: “Tôi đã xem Tống Trân Cúc Hoa từ năm 18 tuổi tại Đoàn chèo Kim Lan (nay là Nhà hát Chèo Hà Nội). Dù nhà cách điểm diễn hơn 10 cây số, tôi vẫn bắt ôtô đến xem. Vở diễn lần này đã cải biên nhiều chi tiết nhưng vẫn hấp dẫn và nguyên giá trị”.

Khán giả đến xem vở “Tống Trân Cúc Hoa”.

Vợ chồng khán giả Nguyễn Văn Bình, quê ở Phú Xuyên ra thăm người thân từ sáng sớm và nhanh chóng đặt mua vé xem chèo. Anh Bình cho biết bản thân là người mê nghệ thuật truyền thống và từng đọc tích truyện về mối tình của Tống Trân, Cúc Hoa nên nhất quyết phải có bằng được chỗ ngồi trong rạp vì sớm hôm sau gia đình anh phải về lại quê. Anh chia sẻ: “Đây là lần đầu tôi xem Tống Trân Cúc Hoa và lần thứ ba thưởng thức các vở diễn của Nhà hát Chèo Việt Nam. Hôm nay, tôi ấn tượng với lượng khán giả đến rạp hát. Khán phòng đông hơn rất nhiều so với những lần trước tôi đến đây”.

Tống Trân Cúc Hoa khuyết danh tác giả, là truyện thơ Nôm Việt Nam. Tác phẩm gồm 1.689 câu lục bát, ra đời khoảng giữa thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19. Tống Trân Cúc Hoa từng nhiều lần được các đơn vị chèo cả nước chuyển thể kịch bản và dựng vở diễn. Tác phẩm ngợi ca tình yêu, lòng chung thủy và tình mẫu tử, đồng thời lên án thế lực chà đạp khát vọng hạnh phúc cá nhân.

Một cảnh trong “Tống Trân Cúc Hoa”.

Tống Trân – nho sĩ nghèo – mồ côi cha từ nhỏ. Lớn lên, gia cảnh nghèo khó, anh dắt mẹ đi tha phương cầu thực. Một hôm, mẹ con Tống Trân qua nhà Cúc Hoa – con gái phú ông. Động lòng thương, Cúc Hoa mời mẹ con Tống Trân vào nhà, sai người đem gạo ra cho. Sau đó, cô phải lòng chàng nho sĩ, ngỏ ý kết duyên. Mặt khác, cha Cúc Hoa đã hứa gả cô cho công tử tuổi ngoài 50. Ông bắt Cúc Hoa đuổi mẹ con Tống Trân ra khỏi nhà nhưng cô chống lại. Về sau, phú ông đuổi con gái ra khỏi nhà kèm theo những lời chì chiết cuộc hôn nhân không môn đăng hộ đối.

Cúc Hoa lấy Tống Trân, sống trong căn nhà lụp xụp. Cô bươn chải đủ nghề để chồng yên tâm dùi mài kinh sử. Đến kỳ, Tống Trân khăn gói quả mướp lên kinh thi và đỗ trạng nguyên. Nhà vua muốn gả con cho anh nhưng Tống Trân từ chối. Chính lẽ đó mà công chúa oán hận, xui cha cử Tống Trân đi sứ 10 năm sang nước Tần (Trung Quốc).

 

Ở quê nhà, Cúc Hoa và mẹ ngày đêm mòn mỏi ngóng trông tin tức Tống Trân. Thấy con rể mãi không về, cha Cúc Hoa ép cô tái giá với viên Đình Trưởng tuổi ngoài ngũ tuần trong làng và đuổi mẹ Tống Trân xuống ở chuồng trâu. Quá đau khổ, Cúc Hoa định tự tử nhưng được thần núi cứu rồi giúp cô báo mộng cho Tống Trân trở về. Cuối cùng, gia đình đoàn tụ, cha Cúc Hoa nhận lỗi với con rể.

Để phù hợp thị hiếu công chúng đương đại, đạo diễn Đoàn Vinh đã giản lược nhiều chi tiết so với kịch bản gốc của cố giáo sư Hà Văn Cầu, rút ngắn thời gian diễn. Chất hài hước được đưa vào khi đạo diễn xây dựng nhân vật gia nô yểu điệu, hóa trang như diễn viên hề. Điều này tạo ra lối thưởng thức thoải mái, không căng cứng cảm xúc cho người xem.

Vở Tống Trân Cúc Hoa kéo dài gần hai tiếng. Sân khấu được bài trí đơn giản, phía sau dựng duy nhất khung cửa treo hoành phi câu đối và cuốn thư, đậm không gian xưa. Mỗi hồi diễn khép lại, khán giả vỗ tay rầm rộ. Qua giai điệu chèo, người xem cảm động trước lời tự sự, giãi bày nỗi lòng của nhân vật Cúc Hoa khi phải đối đầu cha, bảo vệ hạnh phúc riêng và một lòng thờ chồng nếu Tống Trân gặp chuyện chẳng lành.

Xem thêm vở chèo Tống Trân Cúc Hoa tại đây Chèo Tống Trân Cúc Hoa

Theo: Trọng Trường/Giải Trí Vnexpress.net

 

Tìm bài hát này:

  • vở chèo cổ

Hội nghị Diên Hồng” giải cứu sân khấu

Nhiều nghệ sĩ và các nhà nghiên cứu đã ví von Hội thảo “Nâng cao chất lượng hoạt động nghệ thuật sân khấu trong thời kỳ mới” như một “Hội nghị Diên Hồng” nhằm giải cứu ngành sân khấu.

Đã lâu lắm rồi, giới sân khấu mới có một cuộc gặp của nhiều tên tuổi sáng giá đến vậy và điều quan trọng là họ đã cùng đưa ra những báo động đỏ về sự khủng hoảng của sân khấu hiện nay và kêu cầu sự trợ giúp.

 Vở “Nghêu Sò Ốc Hến” của Nhà hát Tuồng VN

 

Sân khấu đang ở… khoa hồi sức cấp cứu!

“Nhìn vào diện mạo sân khấu hiện nay, có cảm giác sân khấu đang nằm ở khoa hồi sức cấp cứu và những người làm nghệ thuật, công chúng đang chứng kiến sự sống yếu ớt của nó giống như người bệnh mắc những căn bệnh trầm kha ở giai đoạn cuối khó cứu vớt”, sự ví von của NSƯT Lê Chức, Phó Chủ tịch Hội Nghệ sĩ sân khấu VN phần nào diễn tả một thực tế đó là sân khấu đang cực kỳ bế tắc… Câu chuyện kể khó, kể khổ của sân khấu đã thành chuyện thường ngày ở huyện, tuy nhiên lần này chính những vị lãnh đạo hội nghề nghiệp và cả những nghệ sĩ sáng tạo ra các tác phẩm đều đã thẳng thắn mổ xẻ từng vấn đề cụ thể, thậm chí nêu tên đích danh trách nhiệm của từng cá nhân.

NSƯT Trần Minh Ngọc, Trưởng ban lý luận phê bình, Hội Nghệ sĩ sân khấu VN đánh giá chung về diện mạo sân khấu hiện nay quá lạc hậu, chậm phát triển so với hiện thực đang thay đổi nhanh theo đà phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội. Đã thực sự có nhiều đổi mới trong văn hóa, nghệ thuật … Nhiều mâu thuẫn mới nảy sinh, thậm chí cả xung đột giữa các thế giới mới – cũ, trong khi đó, sân khấu chúng ta chỉ quanh quẩn với các đề tài về quá khứ lịch sử, về đời sống hằng ngày với những mâu thuẫn cá nhân, vụn vặt, đời thường… “Mò mẫm làm sân khấu theo thị trường mà không nắm được quy luật sẽ dẫn đến bế tắc. Chẳng hạn, các sân khấu xã hội hóa ở phía Nam chạy theo thị hiếu của một bộ phận khán giả đã biến sân khấu thành một thứ “nghệ thuật tiêu dùng”, biến khán giả thành người thụ động, người chứng kiến những “trò” kinh dị, đồng tính, ma mị”, NSƯT Trần Minh Ngọc nhấn mạnh.

Hội thảo quy tụ rất nhiều thành phần (do Hội Nghệ sĩ sân khấu VN phối hợp với Sở VHTTDL tỉnh Tuyên Quang tổ chức). Điều đáng tiếc nhất là thiếu vắng rất nhiều các vị trưởng đoàn, giám đốc các đơn vị nghệ thuật sân khấu. Bàn về nâng cao chất lượng hoạt động nghệ thuật sân khấu trong thời kỳ mới thì chính những vị lãnh đạo, chỉ đạo nghệ thuật là những nhân tố quan trọng, những người chèo lái quyết định số phận cho từng đơn vị và tạo nên tác phẩm lại vắng mặt, lẽ ra họ là đối tượng cần phải nghe nhất. Trong khi đó, đích thân vị Chủ tịch Hội Nghệ sĩ sân khấu VN, NSND Lê Tiến Thọ đánh giá điểm thiếu lớn nhất hiện nay ở bình diện chung các đơn vị công lập và ngoài công lập chính là đang đánh mất vị trí tiên phong của nghệ thuật sân khấu, né tránh những xung đột, không có tính dự báo, định hướng xã hội, nhiều tác phẩm nghệ thuật đang ở tình trạng minh hoạ, là cái bóng đang đuổi theo sự phát triển của xã hội. Vậy vai trò của lãnh đạo đơn vị nghệ thuật và chỉ đạo nghệ thuật ở các đơn vị hiện nay đang ở đâu?

Có rất nhiều ý kiến cho rằng những người làm công tác phê bình lý luận hoàn toàn bế tắc trước hiện trạng của sân khấu. Sân khấu xuống cấp, tác phẩm kém chất lượng nhưng không hề thấy những bài phê bình đánh giá thực chất để những người làm nghệ thuật có thể soi vào và sửa mình. Tác giả Nguyễn Hiếu nhận định: “Ở nước ta hiện nay không có một tên tuổi nào xứng đáng được gọi là nhà phê bình sân khấu, kể cả Nguyễn Văn Thành hay TS Nguyễn Thị Minh Thái…, những người được giới sân khấu coi là am hiểu và gắn bó lâu năm với kịch trường. Tại sao lại có tình trạng lĩnh vực phê bình ngày càng yếu kém như vậy? Đó là do thói quen thích nghe lời hay, thích tán tụng, ngại bị phê phán là một căn bệnh khó chữa”. Một trong những nguyên nhân khiến các cây bút phê bình trở nên thiếu tính chiến đấu xây dựng bởi sợ bị ghét bỏ, bị cô lập khi dám “phê bình” thẳng thắn…

Chấp nhận “đồ ăn nhanh” nhưng không bị ngộ độc…

PGS.TS Trần Trí Trắc cho rằng trong cơ chế thị trường hôm nay, nghệ thuật sân khấu VN có hai dòng sáng tạo chính là “tinh hoa” và “đại chúng”. Dòng “tinh hoa” muốn đổi mới trước hết phải có Mạnh Thường Quân biết kinh doanh để chăm lo. Trước đây Nhà nước là Mạnh Thường Quân đối với sân khấu bởi cơ chế bao cấp, nhưng sự bao cấp cào bằng và hào phóng quá đã làm cho nghệ sĩ “vô dụng” tạo ra “nhiều tác phẩm yếu, thiếu tác phẩm hay”. Theo PGS, TS Trần Trí Trắc, chính bản thân Nhà nước cũng cần có đổi mới trong đầu tư để tạo hiệu quả cao hơn với những tác phẩm tư tưởng cao, có nghệ thuật hấp dẫn. Mặt khác, dòng “đại chúng” cũng cần hướng tới thị hiếu khán giả, hoà vào cảm xúc thẩm mỹ, hoà vào thời công nghiệp hoá, hiện đại hoá giống như “đồ ăn nhanh” nhưng không bị ngộ độc… Cũng nhìn ở góc độ đầu tư cho tác phẩm, NSƯT Trần Minh Ngọc cho rằng, đã tới lúc các nhà quản lý cần thay đổi cách làm kiểu xin – cho, đối xử công bằng, hợp lý giữa trong và ngoài công lập. Việc đầu tư cho sáng tác nên theo việc xét duyệt các dự án thông qua thẩm định chất lượng.

Thật kỳ lạ năm nào giới sân khấu cũng có hàng loạt giải thưởng từ chính Hội nghề nghiệp là Hội Nghệ sĩ sân khấu VN cho đến những giải thưởng tại các cuộc thi, liên hoan cho từng loại hình nghệ thuật, lực lượng nghệ sĩ được phong tặng danh hiệu ngày càng nhiều. Câu hỏi đặt ra chính với những người làm sân khấu là vì sao một đội ngũ những người làm nghệ thuật sân khấu hùng hậu là vậy mà vẫn để cho sân khấu bị tụt dốc? Bên cạnh sự chờ đợi những chính sách mới ưu đãi cho những thành phần sáng tạo sân khấu từ Nhà nước thì tại sao những người sáng tạo ra tác phẩm sân khấu không tự thay đổi mình, thay đổi tư duy làm nghệ thuật để tiếp cận thực sự với khán giả.

Qua những ý kiến đóng góp từ hội thảo cũng như yêu cầu từ thực tiễn, Ban sáng tác của Hội Nghệ sĩ sân khấu VN sẽ rà soát lại đội ngũ, đặc biệt là tác giả trẻ để tập huấn, đào tạo nuôi dưỡng tác giả trẻ; Mở rộng đầu tư sáng tác cho sân khấu thử nghiệm để tạo nên hình thức sân khấu mới; Tổ chức nhiều cuộc thi sáng tác kịch bản sân khấu để lựa chọn tác phẩm có chất lượng, sau đó đầu tư cho dàn dựng biểu diễn; Hội sẽ tổ chức mời các nhà lý luận đi xem tác phẩm sau đó có trao đổi bàn tròn và có những tác động qua lại với đối tượng sáng tạo; Sẽ tổ chức các cuộc hội thảo để đánh giá các cuộc thi, liên hoan của Bộ VHTTDL và của Hội tổ chức; Hội sẽ kiến nghị với các cơ quan chức năng xây dựng hay sửa đổi Luật Di sản văn hóa để xã hội quan tâm bảo tồn, phát triển nghệ thuật sân khấu; Xây dựng Quy chế tự do sáng tác; Xây dựng Quỹ hỗ trợ phát triển nghệ thuật sân khấu VN…

(NSND Lê Tiến Thọ, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ sân khấu VN)

Nguồn: Theo Thúy Hiền báo văn hóa

Lại “nóng” vấn đề vi phạm bản quyền VHNT: Đến sân khấu cũng không tha!

Câu chuyện vi phạm bản quyền trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật tưởng chừng chỉ có ở âm nhạc, điện ảnh, văn học… Tuy nhiên, hiện nay đến cả lĩnh vực sân khấu kịch, cải lương vấn nạn này cũng “không tha” khiến những người làm nghề càng bức xúc.

Sân khấu cũng “nóng” vấn đề vi phạm bản quyền

Tưởng chừng ít xảy ra việc đánh cắp bản quyền tác phẩm nhưng thời gian gần đây trên lĩnh vực sân khấu đã xuất hiện việc các nghệ sĩ trẻ vô tư “đánh cắp”, “xài chùa” những trích đoạn, tác phẩm sân khấu mà không hề xin phép. Khi tác giả tình cờ phát hiện lên tiếng phản ứng thì họ tiếp tục phân bua “không biết” hoặc “quên xin phép” (?!).

Không còn là câu chuyện của riêng ai, hành động quen dùng miễn phí, không xin phép tác giả, chủ sở hữu… của một số nghệ sĩ trẻ trong thời gian gần đây không còn là hiện tượng cá biệt. Phần lớn các vi phạm bản quyền thời gian qua “nóng” trên các gameshow truyền hình. Các thí sinh, nghệ sĩ trẻ vô tư đánh cắp ý tưởng vở diễn, vai diễn… đưa vào tiết mục dự thi, chương trình của mình mà không hề có sự đồng ý của tác giả. Diễn viên Gia Bảo mỗi lần vi phạm tác quyền đều xin lỗi nhưng sau đó lại luôn luôn… vi phạm. Điển hình việc sử dụng vai diễn, chi tiết trong trích đoạn của Má ơi, tía Dzìa! của Sân khấu kịch Idecaf trong tiết mục dự thi của mình ở chương trình Sao nối ngôi. Chỉ đến khi nghệ sĩ Thành Lộc lên tiếng chỉ trích thì Gia Bảo mới vội vàng… xin lỗi. Nhưng cũng chỉ thời gian ngắn sau đó, chính Gia Bảo lại một lần nữa phạm lỗi khi dựng lại vở Đời cô Lựu nhưng không hề xin phép NSND Huỳnh Nga và gia đình ông. Hay như mới đây nhóm cà phê kịch Đời cũng bị phản ứng vì vô tư dàn dựng chuyển thể sang kịch từ các vở kinh điển Bên cầu dệt lụa; Tô Ánh Nguyệt…

​ Ba tôi lúc sinh thời từng muốn đốt hết những kịch bản của ông vì có nhiều nghệ sĩ sử dụng chất xám của ông với thái độ thiếu tôn trọng. Thậm chí họ đã tự ý chỉnh sửa mà không có sự đồng ý của tác giả…” (Nghệ sĩ QUẾ TRÂN, con gái của cố NSND Thanh Tòng)

Tác giả Xuyên Lâm cũng từng bức xúc trên trang cá nhân của mình khi thấy kịch bản Nợ sữa chuyển thể từ truyện ngắn Hiu hiu gió bấc của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư bị đạo diễn Vũ Trần sử dụng trong Kịch cùng Bolero. Soạn giả Hoàng Song Việt cũng có nhiều tác phẩm bị các đài truyền hình sử dụng mà không trả tác quyền, thậm chí chỉ cần hỏi xin phép. Tác giả cho rằng, những tác phẩm cải lương bị sử dụng bằng việc chế tác, biến đoạn mà không đề tên trong phần tác giả là việc không thể chấp nhận được.

Chính vì những lùm xùm trong vấn đề bản quyền tác giả nên có những gia đình nghệ sĩ đã tuyên bố không cho phép sử dụng kịch bản của ông, cha mình. Trong đó có hai soạn giả nổi tiếng, có nhiều tác phẩm kinh điển trong sân khấu cải lương là cố NSND Nguyễn Thành Châu và NSND Thanh Tòng. Nghệ sĩ Quế Trân, con gái của cố NSND Thanh Tòng đã từng lên tiếng: “Ba tôi lúc sinh thời từng muốn đốt hết những kịch bản của ông vì có nhiều nghệ sĩ sử dụng chất xám của ông với thái độ thiếu tôn trọng. Thậm chí họ đã tự ý chỉnh sửa mà không có sự đồng ý của tác giả…”.

Việc hai gia đình của hai soạn giả, đạo diễn nổi tiếng cực chẳng đã không cho phép sử dụng tác phẩm của ông, cha họ đã nói lên vấn đề nghiêm trọng đến nhường nào. Bởi trong giới sân khấu, việc trao đổi, hỏi xin phép một tác phẩm, tác giả không hề khó khăn như các loại hình khác. Nhưng phần lớn, những người làm nghề trẻ đã quên đi điều quan trọng đó là sự tôn trọng. NSƯT Trần Minh Ngọc, người đã đạo diễn nhiều tác phẩm nổi tiếng của sân khấu cho rằng có hai nguyên nhân chính của việc này: Thứ nhất, họ chạy theo áp lực thời gian, không chịu nghĩ, không chịu sáng tạo, lấy cái có sẵn của người khác làm của mình. Thứ hai chạy theo lợi nhuận, không muốn trả tiền mà muốn sử dụng miễn phí, đây là suy nghĩ ích kỷ mà người làm nghệ thuật phải tránh xa. “Tôi thấy trong đời sống sân khấu không phải tác giả nào cũng khó khăn. Nhưng những người sử dụng nó lại phớt lờ, không tôn trọng tác giả thì trách sao họ không lên tiếng phản ứng. Bản thân tôi là đạo diễn khi xin phép tác giả nổi tiếng, họ không những vui mừng mà còn tạo điều kiện cho mình dàn dựng vở diễn tốt nhất. Trong thời hiện đại không khó để liên hệ tác giả hoặc sở hữu tác phẩm. Vậy tại sao lại không tôn trọng quyền tối thiểu của họ”, NSƯT Trần Minh Ngọc nói.

​Sao không đi làm “khai sinh” cho “đứa con tinh thần” của mình?

Đành rành việc vi phạm bản quyền tác giả văn học, nghệ thuật là hành vi cần lên án nhưng các tác giả cũng cần có ý thức hơn với “đứa con tinh thần” của mình. Trả lời phóng vấn Văn Hóa, đại diện Cục Bản quyền, Cục Nghệ thuật biểu diễn (Bộ VHTTDL) đều cho rằng, vấn đề quan trọng để giải quyết thực trạng này chính là việc nâng cao ý thức bảo hộ tài sản trí tuệ. Bản thân chủ sở hữu các tác phẩm cũng cần tự ý thức trong việc đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ của mình. Đăng ký bảo hộ quyền tác giả không chỉ giúp chủ sở hữu có quyền sử dụng chính tác phẩm của mình mà còn giúp chủ sở hữu có thể tiến hành các biện pháp hành chính và hình sự để xử lý hành vi xâm phạm bản quyền.

Khi phát hiện những vi phạm sở hữu trí tuệ, đối tượng bị xâm hại bản quyền cần đưa ngay sự việc ra cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo Điều 220, Luật Sở hữu trí tuệ, các cơ quan có trách nhiệm xử lý các vụ việc có vi phạm xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan bao gồm thanh tra, các cơ quan như công an, hoặc tòa án.

Một trong những cái khó của việc thực thi quyền tác giả, quyền liên quan tại VN chính là nhận thức của các nhóm đối tượng trong xã hội về vai trò của quyền này chưa đầy đủ. Các tranh chấp liên quan tới tài sản cá nhân là quan hệ dân sự. Cơ quan hành chính, tòa án chỉ thụ lý khi bản thân tác giả có đơn khiếu kiện đến cơ quan quản lý nhà nước. Vì vậy, khi các tác giả không lên tiếng thì cơ quan quản lý nhà nước sẽ không có cơ sở để thực thi xử lý các vi phạm, vì vậy để thực hiện quyền lợi của mình khi bị xâm phạm, các tác giả cần có tiếng nói bằng văn bản gửi đến cơ quan quản lý nhà nước hoặc cơ quan có thẩm quyền. Các cơ quan quản lý nhà nước sẽ có giám định quyền tác giả, quyền liên quan và xử lý các hành vi vi phạm. Quan trọng nhất, chính các tác giả cần có sự chuyển dịch trong suy nghĩ và hành động để tự bảo vệ tài sản của mình, không thể chờ đợi sự phát hiện sai phạm từ phía báo chí hay sự “bảo vệ” từ các cơ quan quản lý cho “đứa con tinh thần của mình”.

Nguồn: Theo Mai Linh- Anh Đào báo Văn hóa

Lịch sử và đặc điểm nghề hát chèo Việt Nam

Từ bao đời nay hát chèo đã trở thành một loại hình sinh hoạt văn hóa nghệ thuật quen thuộc của người dân Việt Nam, nuôi dưỡng đời sống tinh thần dân tộc bởi cái chất trữ tình đằm thắm sâu sắc.

Trong kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian dân tộc, chèo là một loại hình sân khấu kịch hát đậm đà tính dân tộc, với sự kết hợp nhuần nhuyễn của hàng loạt yếu tố: hát, múa, nhạc, kịch mang tính nguyên hợp vô cùng độc đáo.

“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy
Hội chèo làng Ðặng đi qua ngõ
Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay”

Lịch sử nghề Hát chèo
Kinh đô Hoa Lư – Ninh Bình được coi là đất tổ của sân khấu chèo, và người sáng lập là bà Phạm Thị Trân, một vũ ca tài ba trong hoàng cung nhà Đinh vào thế kỷ 10. Sau này loại hình nghệ thuật biểu diễn này đã được phát triển rộng ra đồng bằng Bắc Bộ. Địa bàn phố biến từ Nghệ – Tĩnh trở ra.

Đồng bằng châu thổ sông Hồng luôn là cái nôi của nền văn minh lúa nước của người Việt. Mỗi khi vụ mùa được thu hoạch, họ lại tổ chức các lễ hội để vui chơi và cảm tạ thần thánh đã phù hộ cho vụ mùa no ấm. Từ thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, họ đã biết biểu diễn các vở chèo đầu tiên trên sân đình. Nhạc cụ chủ yếu của chèo là trống chèo. Chiếc trống là một phần của văn hoá cổ Việt Nam, người nông dân thường đánh trống để cầu mưa và biểu diễn chèo.

Chèo bắt nguồn từ âm nhạc và múa dân gian, nhất là trò nhại từ thế kỷ 10. Qua thời gian, người Việt đã phát triển các tích truyện ngắn của chèo dựa trên các trò nhại này thành các vở diễn trọn vẹn dài hơn.

Sự phát triển của chèo có một mốc quan trọng là thời điểm một binh sỹ quân đội Mông Cổ đã bị bắt ở Việt nam vào thế kỷ 14. Binh sỹ này vốn là một diễn viên nên đã đưa nghệ thuật Kinh kịch của Trung Quốc vào Việt Nam. Trước kia chèo chỉ có phần nói và ngâm các bài dân ca, nhưng do ảnh hưởng của nghệ thuật do người lính bị bắt mang tới, chèo có thêm phần hát.


Một cảnh trong vở Hồ Xuân Hương

Vào thế kỷ 15, vua Lê Thánh Tông đã không cho phép biểu diễn chèo trong cung đình, do chịu ảnh hưởng của đạo Khổng. Do không được triều đình ủng hộ, chèo trở về với những người hâm mộ ban đầu là nông dân, kịch bản lấy từ truyện viết bằng chữ Nôm. Tới thế kỷ 18, hình thức chèo đã được phát triển mạnh ở vùng nông thôn Việt Nam và tiếp tục phát triển, đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ 19. Những vở nổi tiếng như Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, Kim Nham, Trương Viên xuất hiện trong giai đoạn này. Đến thế kỷ 19, chèo ảnh hưởng của tuồng, khai thác một số tích truyện như Tống Trân, Phạm Tải, hoặc tích truyện Trung Quốc như Hán Sở tranh hùng. Đầu thế kỷ 20, chèo được đưa lên sân khấu thành thị trở thành chèo văn minh. Có thêm một số vở mới ra đời dựa theo các tích truyện cổ tích, truyện Nôm như Tô Thị, Nhị Độ Mai.

Chèo sân đình, còn được gọi là chèo cổ: Là loại hình chèo cổ của những phường chèo xưa, thường được biểu diễn ở các sân đình, sân chùa, sân nhà các gia đình quyền quý. Sân khấu chèo sân đình thường chỉ là một chiếc chiếu trải ngoài sân, đằng sau treo chiếc màn nhỏ, diễn viên và nhạc công ngồi hai bên mép chiếu tạo dàn đế. Chèo sân đình diễn theo lối ước lệ, cảnh trí chỉ được thể hiện theo ngôn ngữ, động tác cách điệu của diễn viên. Đạo cụ của người diễn hay sử dụng là chiếc quạt.

Trên đường xâm nhập ngày càng sâu vào mọi mặt sinh hoạt đời thường của bà con thôn xóm, những người làm chèo đã nhanh chóng kịp thời chuyển địa điểm diễn qua sân đình, từ lòng đình hoặc thềm đình quay ra ba phương sáu hướng, lấy đấy làm khán trường ngoài trời rộng rãi phóng khoáng. Cứ thế, dần hình thành cả loạt nguyên tắc kịch thuật linh hoạt độc đáo, mà nhiều nhà chuyên môn gọi là sân khấu ba mặt.

Quá trình tìm cách thể hiện các tích mới, nhân vật mới, tình huống mới, nghệ nhân đã vay mượn các loại dân ca, dân vũ trò diễn dân gian và “chèo hoá” chúng dần cho tới khi thành thủ pháp của vốn nghề nhà. Không loại trừ những cái mới không thể không sáng tạo, ban đầu có thể còn vụng về, gồ ghề, sau được người này kẻ kia uốn nắn sửa sang mà thành hay dần, đẹp dần, với sức diễn tả mạnh dần.

Dường như trong chèo cổ, cái cười ngày càng chiếm thời gian dài, càng chú ý phản ánh những thói hư tật xấu của đời thường. Ðiều đó, làm cho tính xã hội của chèo ngày mỗi nổi đậm về sau. Nổi bật hơn cả là lớp việc làng chỉ bằng nói thường, nói lối, nói rao, “ngâm thơ”, với đủ thành phần nhân sự của bộ máy chính quyền cơ sở đại diện cho pháp luật, tập tục, đạo lý, tôn giáo, bị vạch mặt thật ê chề.

Song nhà nghề trân trọng gìn giữ, coi là mẫu mực cho nghề Tổ, còn là cả loại hình tượng nhân vật nữ tốt có, chưa hẳn tốt có, chưa hẳn xấu cũng có, đặc biệt là số nhân vật nữ vượt khỏi vòng kiềm toả của đạo lý phong kiến, như Thị Màu, đào Huế, Suý Vân,…

Một cảnh trong vở Quan Âm Thị Kính

Có điều, nếu Thị Màu chỉ là nhân vật đối tỷ cốt làm bật rõ sự nhẫn nhục của Thị Kính lần nữa, để đức độ nàng khả dĩ đủ mức lên toà sen thành Phật Quan Âm; nhân vật đào Huế tuy chẳng ai nói là “phản diện” nhưng cũng không được nhà Nho “ưa”, vẫn chỉ là chi tiết phụ, mà nếu có lược đi cũng không hại gì đến kết cấu và chủ đề tích truyện; còn Suý Vân, người phụ nữ bất đắc dĩ đành bỏ chồng, lại nằm vào bản thân (tích) trò, hay nói đúng hơn, dễ tới 2/3 thời gian diễn tích Kim Nham là để thể hiện nàng.

Thị Màu, Ðào Huế, Suý Vân đều được nghệ nhân sáng tạo thành khuôn diễn với nhiều bài hát múa dành riêng, độc đáo, tới nay vẫn giữ nguyên giá trị thẩm mỹ và giá trị nghệ thuật.

Những tính cách, chính là đức độ bản sắc nhân vật ấy thường bộc lộ thụ động, tức là họ chỉ phô bày tâm trạng và cách ứng phó khi sự biến đã xẩy ra, bằng cách diễn xuất mang nội dung và hình thức nhiều ít hấp dẫn đủ sức làm gương cho người xem. Chỉ số ít mang tính cách vượt khỏi quan điểm phong kiến mới phô bày một cách chủ động, mà có đúng là cố ý, khi nghệ nhân dùng những làn điệu và khuôn diễn thật đặc sắc làm rạng rỡ nghệ thuật cổ truyền: tính từ những nhân vật Thày Ðồ, Thày Bói, Phù Thuỷ, Vợ Mõ đến Thị Màu, Ðào Huế, Suý Vân.

Ðồng thời với sự xuất hiện lần lượt những cái mới trên, tính xung đột hay thường gọi là tính kịch trong một số bản trò cùng tuỳ người soạn, tuỳ tích, tuỳ phường gánh và khán giả mà gia tăng đáng kể. Ðiều này đi theo với việc bộc lộ tính cách nhiều hay ít chủ động của nhân vật. Như xung đột trực diện và quyết liệt giữa Ðào Huế và Tuần Ty (với đào Nấp) là một bước “mới” so với xung đột cũng trực diện trước đấy giữa Châu Long và Lưu Bình, hoặc giữa Vợ Mõ với Xã Trưởng.

Ở đây cũng thấy rõ quá trình thu hút hòa nhập số loại hình dân ca, dân vũ, diễn xướng và trò diễn dân gian làm thành bản thân nghệ thuật chèo, mà thực tế diễn xuất của số vở truyền thống còn hằn rõ dấu vết. Cho nên, nói “chèo ra đời từ thời Ðinh, xây dựng trên cơ sở trò nhại và hát múa” như một nhà nghiên cứu đã viết là chưa thỏa đáng. Thực ra, chèo từ loại Giáophát triển thành có tích, có nhân vật, từ đấy du nhập, chuyển biến các loại hát bỏ bộ (trong sinh hoạt hát Xoan, hát Dậm, hát Dô,…), các loại hát nói(trong hát ả đào, hát văn, hát xẩm,…), kết hợp với số động tác trong múa(hát) chèo đò, múa (hát) cửa đình(các khuôn múa bàn tay, múa lượn ngón, múa cánh tay), múa mâm đên, múa qnạt, múa cờ,…; với cả những trò nói mặt, trò trình nghềvốn rất phổ biến trong những hội làng, đánh dấu từng mức trình độ sáng tạo và thưởng ngoạn nghệ thuật của đồng bào từng vùng.

Như vậy, chèo sân đình hình thành ngôn ngữ nghệ thuật ngay khi thành hình và phát triển kịch chủng, là đã lưu ý nhiều đến số lớp trò chuyên dùng, xếp cạnh số lớp trò đa dùng, trong đó, âm nhạc giữ vai trò rất quan trọng. Nói cách khác, những gì làm người xem phân biệt chèo với các kịch chủng cùng nằm trong loại hình kịch hát dân tộc (Việt) như tuồng, kể thêm cải lương, chưa nói ôpêra, ôpêrét hay kịch nói, những cái lọt vào tai, hiện ra trước mắt người xem (dù là tâm tư tình cảm nhân vật hay không gian thời gian xẩy ra sự biến) chính là âm nhạc, gồm cả nhạc gõ, nhạc khí và làn điệu qua nghệ thuật biểu diễn của nhà nghề.

Do phải phụ thuộc hoặc chịu ảnh hưởng nhiều ít của những biến thiên văn hóa xã hội mỗi thời kỳ lịch sử mà từ Lý Trần về trước, nhạc dân gian và nhạc cung đình hòa hợp gần như là một; sang đời Hậu Lê có lúc nhạc cung đình hướng ngoại cố giữ vị trí chủ lưu, song không bao lâu cũng chịu bất lực để “tục nhạc” (trong đó có nhạc chèo) bùng lên, ùa tràn vào các lễ nghi triều miếu, bất chấp mấy lần vua Lê chúa Trịnh ra sắc chỉ cấm đoán ngăn chặn, như từng chép ở Ðại Việt sử lý, Vũ trung tuỳ bút. Tới thế kỷ XIX, nhà Nguyễn có lúc muốn thâu tóm tất cả những gì thuộc lễ nhạc về một mối, lập hẳn một Thự, rồi một ban Hiệu Thư chuyên lo mà cũng chỉ cản trở chuyện đó phần nào. Bởi chèo sân đìnhnhờ bám chắc vào đời sống đông đảo bà con và các Hội làng, nên dù ở hoàn cảnh nào cũng được nhân dân bù trì khích lệ mà tồn tại và lớn dần đến ngày nay.

Con đường gần 5 thế kỷ từ chèo Thuyền bản đến chèo Kiều, hoặc có thể nói, từ trò nhà Phật (có thể gọi là chèo sân chùa?) chuyển sang chèo sân đình qua biết bao biến thiên văn hóa xã hội, cả chính trị, đã để lại cho đời cả một kho tàng nghệ thuật sân khấu dân tộc quý giá, đòi các thế hệ sau quan tâm bảo tồn, kế thừa, phát huy và phát triển.

Sự hình thành khuôn diễn cho từng loại nhân vật hay cho từng nhân vật cụ thể là cả một công trình nghệ thuật mang tính tập thể cao độ, trong đó, mỗi người mỗi góp vào, phần nhiều từ ứng diễn ứng tác truyền đời trên cơ sở bản trò. Vì thế hình tượng vai đóng đã hầu thành khuôn diễn chung trên đường nét cơ bản đòi kẻ đi sau phải cố gắng tuân thủ, nhất thể đối với số vai hay, vở diễn hay, đã được giới nghề coi là vốn cũ truyền thống.


Một cảnh trong vở Trương Viên

Chèo cải lương là một dạng chèo cách tân do Nguyễn Đình Nghi khởi xướng và theo đuổi để thực hiện từ đầu những năm 1920 đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, theo xu hướng phê phán tính ước lệ của chèo cổ. Chèo cải lương được soạn thành màn, lớp, bỏ múa và động tác cách điệu trong diễn xuất, xử lý những mô hình làn điệu chèo cổ, đưa nguyên những bài dân ca có sẵn vào bổ sung cho hát chèo. Bộ “Tám trận cười” của Nguyễn Đình Nghi gồm những vở nổi tiếng.

Chèo chải hê, còn gọi là chèo nhị thập tứ hiếu bắt nguồn từ nội dung diễn xướng: Là loại hình dân ca hát vào rằm tháng bảy hàng năm, hoặc trong đám tang, đám giỗ của người có tuổi thọ, có nguồn gốc từ việc kết nghĩa giữa 2 làng Vân Tương (Bắc Ninh) và Tam Sơn (Đông Anh, Hà Nội), gồm có các phần:

 1. Giáo roi 
 2. Nhị thập tứ hiếu
 3. Múa hát chèo thuyền cạn
 4. Múa hát kể thập ân.

Kết thúc chương trình hát chèo chải hê thường là hát quan họ.

Điều thú vị là chèo Chải Hê ban đầu nhằm diễn xướng trong các đám tang hiếu của người cao tuổi, về sau, nhu cầu giải trí, giao lưu văn nghệ càng lên cao, nó có thêm những bài hát chèo thuyền và hát huê tình tươi tắn, sinh động. Xưa kia, làng Lũng Giang có đến ba phường chèo Chải Hê tại ba xóm Chùng, Chinh, Đông, thường hát thi với nhau.

Đặc điểm của chèo Việt
Không giống tuồng chỉ ca tụng hành động anh hùng của các giới quyền quý, chèo miêu tả cuộc sống bình dị của người dân nông thôn. Khát vọng sống thanh bình giữa một xã hội phong kiến đầy bất công. nhiều vở chèo còn thể hiện cuộc sống vất vả của người phụ nữ sẵn sàng hy sinh bản thân vì người khác. Nội dung của các vở chèo lấy từ những truyện cổ tích, truyện Nôm; được nâng lên một mức cao bằng nghệ thuật sân khấu mang giá trị hiện thực và tư tưởng sâu sắc. Trong chèo, cái thiện luôn thắng cái ác, các sỹ tử tốt bụng, hiền lành, luôn đỗ đạt, làm quan còn người vợ thì tiết nghĩa, cuối cùng sẽ được đoàn tụ với chồng. Các tích trò chủ yếu lấy từ truyện cổ tích, truyện Nôm; ca vũ nhạc từ dân ca dân vũ; lời thơ chủ yếu là thơ dân gian. Lối chèo thường diễn những việc vui cười, những thói xấu của người đời như các vai: Thầy mù, Hương câm, Đồ điếc, Quan Âm Thị Kính. Ngoài ra chèo còn thể hiện tính nhân đạo, như trong vở Trương Viên.

Chèo luôn gắn với chất “trữ tình”, thể hiện những xúc cảm và tình cảm cá nhân của con người, phản ánh mối quan tâm chung của nhân loại: tình yêu, tình bạn, tình thương.

Nhân vật trong chèo

Vai Hề
Nhân vật trong chèo thường mang tính ước lệ, chuẩn hóa và rập khuôn. Tính cách của các nhân vật trong chèo thường không thay đổi với chính vai diễn đó. Những nhân vật phụ của chèo có thể đổi đi và lắp lại ở bất cứ vở nào, nên hầu như không có tên riêng. Có thể gọi họ là thầy đồ, phú ông, thừa tướng, thư sinh, hề v.v…Tuy nhiên, qua thời gian, một số nhân vật như Thiệt Thê, Thị Kính, Thị Mầu, Súy Vân đã thoát khỏi tính ước lệ đó và trở thành một nhân vật có cá tính riêng.

Diễn viên đóng chèo nói chung là những người không chuyên, hợp nhau trong những tổ chức văn nghệ dân gian gọi là phường chèo hay phường trò…”Hề” là một vai diễn thường có trong các vở diễn chèo. Anh hề được phép chế nhạo thoải mái cũng như những anh hề trong cung điện của vua chúa châu Âu. Các cảnh diễn có vai hề là nơi để cho người dân đả kích những thói hư tật xấu của xã hội phong kiến hay kể cả vua quan, những người có quyền, có của trong làng xã. Có hai loại hề chính bao gồm: hề áo dài và hề áo ngắn.

Kỹ thuật kịch
Đây là loại hình nghệ thuật tổng hợp các yếu tố dân ca, dân vũ và các loại hình nghệ thuật dân gian khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nó là hình thức kể chuyện bằng sân khấu, lấy sân khấu và diễn viên làm phương tiện giao lưu với công chúng, và có thể được biểu diễn ngẫu hứng. Sân khấu chèo dân gian đơn giản, những danh từ chèo sân đình, chiếu chèo cũng phát khởi từ đó. Đặc điểm nghệ thuật của chèo bao gồm yếu tố kịch tính, kỹ thuật tự sự, phương pháp biểu hiện tính cách nhân vật, tính chất ước lệ và cách điệu. Ngôn ngữ chèo có những đoạn sử dụng những câu thơ chữ Hán, điển cố, hoặc những câu ca dao với khuôn mẫu lục bát rất tự do, phóng khoáng về câu chữ.

Chèo không có cấu trúc cố định năm hồi một kịch như trong sân khấu châu Âu mà các nghệ sỹ tham gia diễn chèo thường ứng diễn. Do vậy, vở kịch kéo dài hay cắt ngắn tuỳ thuộc vào cảm hứng của người nghệ sỹ hay đòi hỏi của khán giả. Không giống các vở opera buộc các nghệ sỹ phải thuộc lòng từng lời và hát theo nhạc trưởng chỉ huy, nghệ sỹ chèo được phép tự do bẻ làn, nắn điệu để thể hiện cảm xúc của nhân vật. Số làn điệu chèo theo ước tính có khoảng trên 200.

Nhạc cụ
Chèo sử dụng tối thiểu là hai loại nhạc cụ dây là đàn nguyệt và đàn nhị, đồng thời thêm cả sáo nữa. Ngoài ra, các nhạc công còn sử dụng thêm trống và chũm chọe. Bộ gõ nếu đầy đủ thì có trống cái, trống con, trống cơm, thanh la, mõ. Trống con dùng để giữ nhịp cho hát, cho múa và đệm cho câu hát. Có câu nói  “phi trống bất thành chèo” chỉ vị trí quan trọng của chiếc trống trong đêm diễn chèo. Trong chèo hiện đại có sử dụng thêm các nhạc cụ khác để làm phong phú thêm phần đệm như đàn thập lục, đàn tam thập lục, đàn nguyệt, tiêu v.v…

Chèo hay là thế, độc đáo là thế, nhưng bộ môn nghệ thuật truyền thống này với đặc điểm hiện diện là biểu diễn – các trình thức múa hát xung quanh một thân trò, bởi thế cho nên, chèo được lưu truyền chủ yếu qua một trật tự hết sức tự nhiên: thày giáo già- con hát trẻ. Thế hệ nghệ sỹ sau nối tiếp thế hệ trước, giữ nghề bằng cách truyền nghề trực tiếp, bắt tay chỉ ngón, dạy từng cách diễn, cách hát. Phần kịch bản văn học của chèo cổ cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay với một vài bản nôm, gần hơn là một vài bản bằng chữ quốc ngữ in trong trời Pháp thuộc (nhưng những bản này lại không mấy chính xác so với những lớp diễn của các nghệ nhân!). Thực tế này là một khó khăn, thách thức lớn đối với công việc nghiên cứu, sưu tầm chèo cổ.

Từ năm 1959 đến năm 1964, Bộ văn hoá (nay là Bộ VH,TT&DL)  đã tổ chức các Hội nghị nghệ nhân. Mỗi đợt hội nghị diễn ra trong vòng từ một đến ba tháng. Tại đây, qua sự giới thiệu của các Ty Văn Hoá địa phương, các nghệ nhân chèo đã được mời đến với mục đích phục hồi các tiết mục chèo cổ.

Trong thời gian họp lại với nhau, các cụ nghệ nhân đã chia tổ, cùng nhau nhớ, ghim ghép các mảnh trò, trò diễn lại với nhau. Trong quá trình hội nghị, vốn liếng cá nhân đã dần dần đi tới thống nhất tương đối về mặt cấu trúc của các trò diễn. Từ những sáng tạo biểu diễn riêng biệt, mỗi chiếng diễn một khác, mỗi cụ diễn một khác đối với cùng một trò diễn hay vai diễn, các nghệ nhân đã gạn đục khơi trong, xây dựng những trích đoạn những vai diễn tiêu biểu, sau này chúng ta lấy đó làm mẫu.

Cho đến hôm nay, 7 vở chèo truyền thống được gìn giữ, bảo tồn đã cho thấy hành trình bảo tồn, sáng tạo nghệ thuật không chỉ tính bằng tháng năm thông thường mà phải được tính bằng đời nghệ sỹ, tính bằng những thăng trầm và lòng nhiệt huyết với nghề tổ. Các nghệ nhân được quy tụ, tập hợp, khuyến khích sáng tạo trong môi trường lao động nghệ thuật đúng hướng và thực chất sẽ mang lại hiệu quả lớn mà thời gian và công chúng thưởng thức nghệ thuật sẽ là thước đo đánh giá chính xác.

Trên đường phát triển của mình, chèo đã tiếp nhận nhiều nhân tố mới lạ cả về cấu trúc lẫn âm nhạc, múa, mỹ thuật… Những thủ pháp cấu trúc của kịch nói (gốc phương Tây) đã được du nhập vào chèo để phục vụ cho việc kể chuyện của chèo thêm hấp dẫn, nhưng đã được “chèo hóa”, hài hòa trong mạch kể. Những làn điệu dân ca các vùng, miền Trung, miền Nam, các dân tộc miền núi, thậm chí của cả nước khác trên thế giới cũng được “chèo hóa” đi cho phù hợp với phong cách của nó, phù hợp với “khẩu vị” của người dân quê đồng bằng Bắc bộ Việt Nam. Có thể nói, người Việt Nam đã hình thành nên một kiểu “Văn hóa chèo” bền vững và đầy sức sống (bao gồm Văn chèo, Nhạc chèo, Múa chèo, Mỹ thuật chèo và Cách diễn chèo). Nó không bị đồng hóa, mà còn có khả năng tự làm phong phú bằng cách đồng hóa các yếu tố ngoại nhập trên con đường phát triển của mình và luôn luôn đào thải những gì không phù hợp với nó. Cái chất dân dã mộc mạc, nhắn nhủ duyên dáng, hài hước đã tạo dựng lên cái xương cốt của chèo với phong vị riêng. Nó nghiêm chỉnh đấy nhưng cũng hài hước ngay được. Cái bi tưởng đến tột cùng nhưng lại xóa ngay được bằng cái hài ý vị, thoắt hư thoắt thực, có lúc nhân cái phi lí để làm rõ cái có lý, cứ thế dẫn người xem vào một cuộc hành trình đầy bất ngờ và thú vị.

Trải qua trăm năm thời gian, con người đất Việt đã tạo nên xung quanh tâm hồn mình một cơ tầng văn hoá với những vỉa trầm tích quý giá, đó chính là hàng trăm, hàng nghìn câu ca dao, tục ngữ, dân ca, điệu hò… và nghệ thuật chèo truyền thống. Chúng ta có thể tự tin để nói với nhau rằng- qua hệ thống các nhân vật tạo nên các tích trò lý thú, nghệ thuật chèo đã mang lại cho con người Việt Nam truyền thống sự thanh lọc tâm hồn.

Về Duệ Đông nghe câu quan họ cổ

Một canh hát quan họ truyền thống tại làng Duệ Đông, thị trấn Lim, huyện Tiên Du (Bắc Ninh).

Một canh hát quan họ truyền thống tại làng Duệ Đông, thị trấn Lim, huyện Tiên Du (Bắc Ninh).

Hương thơm man mác của những bông hoa bưởi vào mùa và mưa xuân phơi phới bay dường như là thứ gia vị làm cho những câu hát quan họ thêm đậm đà. Dù bận rộn với công việc thường ngày, nhưng những liền anh, liền chị của làng quan họ Duệ Đông, thị trấn Lim, huyện Tiên Du (Bắc Ninh) vẫn thu xếp để tổ chức các canh hát quan họ truyền thống mộc mạc, đúng lề lối như mọi năm. Và dù không diễn ra thâu đêm suốt sáng “ca cho tàn canh, mãn võ, cho tàn đêm rạng ngày”, nhưng đã phần nào làm thỏa niềm mong mỏi của “người chơi” và nhất là những ai đã trót mê đắm quan họ.

“Nghề chơi” lắm công phu

Bà Nguyễn Thị Bình năm nay ngoài 70 tuổi, một mình từ huyện Đông Anh, Hà Nội, tìm về làng Duệ Đông. Nơi đây bà đã sinh ra và lớn lên, giờ đi lấy chồng xa, mỗi năm cứ vào dịp đầu Xuân, bà Bình lại nhớ nhung những câu hát quan họ mình đã được nghe thuở trước, nhớ nhung những canh hát quan họ truyền thống mà tìm về. Bà Bình kể rằng: Ở Hội Lim trên đồi đông quá không chen được, chỉ có tìm vào làng nghe hát canh như thế này mới thỏa nhớ nhung. Ngày trước, thuở 15, 16 tuổi, bà đã sang ông Đắc, ông Chùa (thế hệ cao tuổi chơi quan họ của làng Duệ Đông) học hát. Lúc đó còn trẻ, chưa thấm câu quan họ, thế nào lại chuyển sang học dân ca. Để đến bây giờ cứ tiếc mãi.

Các cụ cao niên của làng Duệ Đông khẳng định rằng, quan họ cổ hát đã khó lại kén người nghe, phải là những người thật sự đam mê, có lòng yêu quan họ say đắm thì mới nghe và cảm được nó. Thế mà đã gần 20 năm nay, ông Đặng Thọ Tường sống tại TP Hải Phòng chưa bỏ nghe một canh hát quan họ truyền thống nào của làng Duệ Đông. Không giống bà Bình, ông là khán giả nhiệt thành của canh hát nhiều năm như vậy vì ông yêu lối sống giản dị, quý bạn, quý khách của những liền anh, liền chị làng Duệ Đông. Khi đến với họ, ông cảm thấy gần gũi như thể trở về nơi thân thiết của mình. Ông đặc biệt yêu thích dân ca miền bắc, mà trong đó mê nhất là những câu quan họ, nhất là quan họ cổ. Vì yêu thích và mong nhiều người yêu thích như mình, năm nào ông cũng tới làng Duệ Đông thật sớm, ngồi chăm chú lắng nghe và ghi lại canh hát cổ bằng chiếc máy quay nhỏ. Hỏi ra mới biết, mặc dù những câu hát và canh hát năm nào cũng vậy, thế mà ông Tường chưa một lần bỏ canh hát quan họ cổ vào dịp đầu Xuân hằng năm của làng Duệ Đông trong suốt nhiều năm qua.

Trong ngôi nhà nhỏ của bà Nguyễn Kim Thanh – Chủ nhiệm Câu lạc bộ Quan họ thôn Duệ Đông, canh hát quan họ cổ được phục dựng lại với đầy đủ lề lối. Bọn quan họ (cách gọi truyền thống về những người chơi quan họ) nam ngồi đối diện với bọn quan họ nữ, ở giữa chiếu là những cơi trầu têm cánh phượng và chén trà thơm. Bên nữ ra câu “Mong người như cá mong mưa”, bên nam đối “Nhẽ ra em cũng ở nhà”; bên nữ ra câu “Nhớ ai nhớ mãi thế này”, bên nam đối câu “Ông tơ hồng ơi”… Không nhạc đệm, không loa máy, hàng trăm câu quan họ mộc mạc trữ tình vang lên giữa không gian trầm mặc, tĩnh lặng. Một canh hát quan họ thường diễn ra từ sẩm tối hôm trước cho đến hai, ba giờ sáng hôm sau, được chia thành ba chặng. Đầu tiên là hát giọng lề lối như La rằng, Tình tang, Bạn kim lan, Cái ả… những giọng này đòi hỏi người ca phải chậm rãi, đúng chất “vang, rền, nền, nảy”. Chặng giữa hát các bài thuộc giọng lẻ, giọng vặt như Khách đến chơi nhà, Tay em nâng cái cơi đựng giầu, Em là con gái Bắc Ninh, Tiên sa xuống cõi trần chơi… không phải theo trình tự bắt buộc như chặng đầu, cho nên các anh Hai, chị Hai càng hát, càng say, kể về niềm thương, nỗi nhớ về tình yêu, tình người… Chặng cuối thường vào lúc hai, ba giờ sáng, cả chủ và khách đều lưu luyến, bịn rịn, cho nên thường ca những câu giã bạn như Chuông vàng gác cửa tam quan, Người ơi người ở đừng về, Chia rẽ đôi nơi, Kẻ bắc, người nam…

“Nghĩa người em để trong cơi/ Nắp vàng đậy lại để nơi giường nằm”, trong văn hóa quan họ, tình người và phong cách ứng xử khiêm nhường, lịch lãm giữa các liền anh, liền chị cũng là một vẻ đẹp nổi bật. Người quan họ bình đẳng, luôn quý trọng, tôn kính nhau. Điều này biểu hiện không chỉ trong các ca từ, bài bản quan họ mà còn trong giao tiếp. Bao giờ người quan họ cũng xưng “em” hoặc “chúng em” và gọi bạn là “anh” hoặc “chị” cho dù ít tuổi hay nhiều tuổi hơn và thậm chí là tài năng “chơi quan họ” không bằng. Các cụ bảo “Nghề chơi của chúng em công phu lắm nên muốn chơi được quan họ đòi hỏi nhiều tâm sức và thật kỳ công”.

Hàng trăm câu hát và cách giao tiếp trong canh hát quan họ cổ không được ghi chép trong bất cứ tư liệu nào, cách duy nhất là học từ các nghệ nhân cao tuổi. Ở làng Duệ Đông có nghệ nhân Nguyễn Thừa Kế năm nay 100 tuổi và nghệ nhân Nguyễn Văn Đắc năm nay 96 tuổi luôn là người giữ lửa, thuần thục về các kỹ năng hát quan họ và tâm huyết trong việc gìn giữ và phát huy những làn điệu quan họ cho thế hệ trẻ. Tuổi đã cao như vậy, nhưng ông Đắc vẫn tự dò đường trong con ngõ tối của làng sang nhà bà Thanh, một trong những học trò của ông, để tham gia canh hát như một thói quen không thể bỏ từ năm này sang năm khác. Vừa hát vừa nghe các học trò hát, ông Đắc gật gù với nét mặt mừng vui về một thế hệ sau đã tiếp nối được những gì ông mong muốn. Ông kể lại về những canh hát xưa: “Bây giờ các cô, các chị hát quan họ đã cải biên nhiều, nhưng lối hát cổ thì không thể cải đi được. Ngồi như thế này là hát canh, bên anh Hai, chị Hai ngồi hát đối nhau thế, tình cảm nó mới nhiều. Cất lên câu hát là biết ngay”.

Nơi trao truyền các giá trị truyền thống

Năm 1992, Câu lạc bộ quan họ làng Duệ Đông chính thức được thành lập mà nghệ nhân Nguyễn Thừa Kế và nghệ nhân Nguyễn Văn Đắc là hạt nhân chính. Với suy nghĩ, ngày xưa các cụ đã dạy mình gì thì mình truyền dạy cho con cháu cái đó, cụ Kế và cụ Đắc dành hết tâm huyết để truyền dạy quan họ. Năm nay, khi cụ Kế đã tuổi cao sức yếu, cụ Đắc vẫn miệt mài truyền nghề. Mỗi thứ bảy hằng tuần, chẳng kể trời mưa hay nắng, lớp học chưa khi nào vắng bóng người thầy già. Sau khi giao bài, hát mẫu cho những người trong câu lạc bộ quan họ, cụ lại dành ra một buổi, kiểm tra, uốn nắn từng lời ca, giọng ngân… của “học viên”. Khi lớp học trò của cụ đạt được đến giọng chuẩn, theo tiêu chí vang, rền, nền, nảy của người quan họ, thầy giao nhiệm vụ cho các thành viên tiếp tục truyền dạy cho các lớp kế cận.

Bà Nguyễn Kim Thanh, hiện là Chủ nhiệm Câu lạc bộ đã lớn lên với những canh hát quan họ cổ bởi đây là truyền thống gia đình. Cách đây 26 năm, bà Thanh quyết định nghiên cứu chuyên sâu về quan họ, cho nên đi theo hai thầy Nguyễn Thừa Kế và Nguyễn Văn Đắc để học hỏi. Bà nhớ lại: “Năm 1992 thành lập, Câu lạc bộ quan họ chỉ có 14 người theo học, sinh hoạt tại đình làng cũ. Những ngày đầu hoạt động, câu lạc bộ còn nhiều khó khăn, vất vả, trang phục biểu diễn không có; nơi sinh hoạt không được khang trang, ổn định; những người chưa học hát bao giờ còn lúng túng, vụng về, sinh hoạt chưa đều đặn…

Thế nhưng, vượt qua tất cả khó khăn, đến nay, Câu lạc bộ quan họ Duệ Đông đã phát triển ổn định, ai cũng có thể hát hay, hát giỏi như những nghệ nhân quan họ thực thụ”.

Hiện, Câu lạc bộ quan họ Duệ Đông có hơn 40 thành viên, sinh hoạt với các lớp thế hệ khác nhau. Người lớn tuổi nhất là nghệ nhân Nguyễn Thừa Kế và nghệ nhân Nguyễn Văn Đắc. Cùng sinh hoạt tại Câu lạc bộ với các liền anh, liền chị trung niên là các cháu thiếu nhi, học sinh các lứa tuổi. Các nghệ nhân quan họ lớn tuổi truyền lại tình yêu và kỹ năng hát cho thế hệ trung niên như bà Nguyễn Kim Thanh, rồi bà lại tiếp tục truyền lại cho con cháu trong nhà, trong câu lạc bộ.

Những liền anh, liền chị làng Duệ Đông đã và đang gắn bó với quan họ bằng tình yêu, lòng đam mê với ý thức về một trọng trách gìn giữ, trao truyền các làn điệu truyền thống cha ông để lại. Đó là lý do mà các canh hát quan họ cổ ở làng Duệ Đông vẫn còn duy trì đến ngày hôm nay và hy vọng sẽ được nhân rộng hơn nữa trong tương lai.

Nguồn: Ái Kiều báo nhân dân

Ngày xuân nghe hát ca trù

 Ngày xuân nghe hát ca trù, càng hiểu sự yêu người, yêu đời và sự tinh tế của người hôm qua và hôm nay. Hát ca trù ở tỉnh Thanh còn được gọi là hát cửa đình, hát ca công thấm đậm tính nhân bản và không kém phần cao siêu.

Ngày xuân, mỗi khi giọng ca trù cất lên bay bổng thiết tha hòa với tiếng trống “chát”, “tom” xen tiếng phách rộn ràng lúc khoan, lúc nhặt, tiếng đàn sâu lắng quyện hoà vào lời ca vang xa da diết ân tình tạo thành chuỗi âm thanh trầm ấm, lắng sâu,.. khiến lòng ta xúc động bồi hồi, nhớ về cội nguồn, nhớ về miền ký ức, đánh thức nỗi niềm sâu thẳm của trái tim mình với những gương mặt “hiền như đất” và làng quê yêu dấu có giếng nước, cây đa, mái đình cổ kính.

Hát ca trù ở Thanh Hoá có từ thời nào không rõ, chỉ biết rằng xứ Thanh là đất quý hương của nhà Lê, đã sinh ra vị vua sáng Lê Thánh Tông. Vị vua văn võ toàn tài, thơ văn trác việt. Người đứng đầu hội “Tao đàn nhị thập bát tú” đã chế ra khúc Hà nam trong âm luật Hồng Đức, sau này là giai điệu của hát nói vừa mang sắc thái hoang sơ, huyền bí như là Thiết nhạc, một bản thể lâu đời của ca trù, vừa phóng khoáng linh động, lại đài các cao sang.

Truyền thuyết về cây đàn đáy và hát ca trù còn lưu lại trong ký ức dân gian xứ Thanh này: Có một người thư sinh tên là Đinh Lễ tình cờ gặp hai tiên ông trong rừng thông nơi chàng thường đến uồng rượu ngâm thơ. Một ông tiên cho chàng miếng gỗ ngô đồng, một ông lại cho chàng hình vẽ một cây đàn và bảo Đinh Lễ tìm người đóng theo mẫu ấy rồi dùng đàn để giúp đời. Ai đang buồn nghe tiếng đàn liền tiêu tan sầu muộn, ai đau ốm nghe tiếng đàn thấy tâm hồn thư thái và khỏe mạnh.

Đinh Lễ vâng lời, chàng cho đóng đàn theo như hình mẫu và quả nhiên tiếng đàn như lời hai ông tiên.

Một hôm Đinh Lễ ngao du đến châu Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá nay và gặp quan châu ở nơi đây có một cô gái xinh đẹp tên là Bạch Hoa. Khi lên mười bỗng nhiên mắc bệnh nặng và bị câm. Sang tuổi 19 nhan sắc của cô khiến nhiều chàng trai mê mẩn, nhưng có điều buồn là cô vẫn không nói không cười khiến quan châu buồn lắm.

Rồi cái ngày mà Đinh Lễ đến châu Thường Xuân ấy và với cây đàn huyền diệu của chàng, tiếng lành đã đồn đến khắp bản dưới, mường trên. Dân chúng liền báo cho quân châu biết Đinh Lễ có cây đàn mầu nhiệm, quan Châu bèn cho mời chàng về dinh. Thi lễ xong, Đinh Lễ so dây đàn rồi dạo lên mấy khúc, tức thì nàng Bạch Hoa tiểu thư đang ngồi ăn cơm trong rèm nghe tiếng đàn réo rắt, tâm tình bèn bỏ bát cơm, rồi lấy hai chiếc đũa gõ lên bàn theo nhịp đàn và bỗng nhiên bật lên tiếng nói: “Tiếng đàn hay quá” từ lúc ấy nàng Bạch Hoa lại nói cười được như những ngày nào.

Vợ chồng quan châu mừng lắm liền gả con gái quý cho Đinh Lễ. Trong ngày thành hôn của họ Đinh Lễ soạn khúc “Loan phụng hoà mình, lời ca tiếng đàn ngân lên làm cho mọi người hết lời khen ngợi. Khúc ca ấy được truyền tụng mãi đến mai sau.

Để nhớ lúc nàng Bạch Hoa nghe tiếng đàn hay đã lấy hai chiếc đũa gõ nhịp hoà âm với lời ca bay bổng, ngày nay hát ca trù vừa hát, phải vừa gõ phách bằng hai dùi trên lá phách.

Hát ca trù cũng lắm công phu và có các lễ tục phải kiêng kỵ tên bậc tổ trong phường. Như truyền thuyết kể trên, người được các vị tiên truyền cho cách đóng đàn đáy là Đinh Lễ, vì vậy chữ “lễ” phải đọc chệch đi là “lỡi”. Nàng Bạch Hoa phải đọc chữ “bạch” thành “biệc”, “hoa” đọc ra là “huê…”

Giáo phường ca trù có phong tục thờ thầy. Học trò theo nghề ca hát mỗi lần hát đình đám phải trích một phần tiền hát góp với phường để cung dưỡng thầy gọi là tiền đầu.

Hàng năm vào ngày 11 tháng chạp, giáo phường có tục lễ tổ làm lễ tế Bạch Hoa công chúa. Có tục “mở xiêm áo”. Khi một người học biết cầm lá phách, biết hát các loại làn điệu, khúc thức, bài hát một cách căn bản thì xin phép được làm lễ trình. Những người am hiểu nghề trong giáo phường tụ họp lại, sát hạch người học trong một buổi, nếu trả lời thông suốt, giọng ca hoà nhập với tiếng đàn lời phách, trống chầu, thể hiện được cái thần của ca từ… thì được phép chọn ngày lành tháng tốt để làm lễ Cao tổ, rồi mời quan viên có danh vọng, am hiểu ca trù tới nghe và cầm trống cho buổi hát đầu tiên gọi là “Lễ mở xiêm áo”.

Ca trù ngày xuân

Trong các làng quê xứ Thanh từ xa xưa và cho tới trước những năm 1960 của thế kỷ XX vẫn còn nhiều nơi hát ca trù – hát cửa đình. Hát cửa đình ở Thanh Hoá được hát vào dịp tế thờ Thành hoàng làng, không tham gia vào việc tế thần mà chủ yếu là hát vui trong dịp thờ thần, hát ở nơi hội hè, mừng thọ, tiệc vui, đôi khi những người hát, người đàn lại đàn hát cho nhau nghe.

Hát ca trù có ở các làng quê như Vệ Yên – Quảng Thắng (Thành phố Thanh Hoá), Hoa Trai (Tĩnh Gia), Xá Lê, Thuần Hậu – Xuân Minh, Bàn Thạch – Xuân Quang (Thọ Xuân), Bái Thủy – Định Liên (Yên Định), Hoằng Phú, Hoằng Trạch, Hoằng Phong (Hoằng Hoá). Ở Ngọc Trung – Xuân Minh (Thọ xuân) còn có đền thờ tổ sư nghề ca công. Ở Đồng Lạc (Hoằng Trạch, Hoằng Hoá) thờ bà Chúa Trắng – là cô gái đẹp hát hay, bà đã dạy hát cho dân và trở thành một nghề truyền thống. Ngôi đình là nơi tổ chức hát, hôm nào bà hát người đứng nghe chật ních. Bà được nhà vua khen và thưởng rất hậu. Giữa hát ca công, cửa đình tỉnh Thanh với ca trù Cổ Đạm (Hà Tĩnh), Lỗ Khê (Đông Anh – Hà Nội) có sự giao tiếp và ảnh hưởng lẫn nhau. Ca trù Lỗ Khê có nguồn gốc từ Thanh Hoá. Người đưa ca trù xứ Thanh ra đất Thăng Long không ai khác chính là Đinh Triết là con trai Đinh Lễ. Chàng trai họ Đinh đã đưa ca trù ra Lỗ Khê và khi mất đã được tôn là tổ nghề ở đây.

Vậy ca trù là gì? Ca là câu hát ngân lên thành khúc điệu. Trù là một cái thẻ ghi chữ đánh dấu để thưởng cho người hát hay. Khi người hát, hát đoạn nào hay, luyến láy ca từ khéo, người nghe hát cảm phục, bỏ một, hai hay nhiều thẻ tre vào hộp.

Người ta thống kê ca trù có trên 80 làn điệu và đến những năm 1930 vẫn còn 44 làn điệu lưu truyền trong nhân dân. Giọng hát ca trù thường lấy nguyên âm “ư”, nguyên âm êm dịu, trầm ấm lan xa làm nền.

Cách hát ca trù ở tỉnh Thanh cũng đơn giản. Trước cửa đình, trên một cái chiếu trải rộng, người hát vừa hát vừa gõ phách, có nhạc cụ đệm. Một ban hát chỉ 3 người là đủ. Người xem lễ xong đứng vòng trong, vòng ngoài mà xem hát.

Hát ca trù phải do người hát có giọng khoẻ, trầm và sang. Người hát gọi là “đào nương”, và sau này là “cô đầu”.

Trong hát ca trù, nhạc đệm cho người hát là chiếc đàn đáy, trống chầu và phách. Đàn đáy là loại nhạc cụ dân tộc rất hợp với hát ca trù. Thùng đàn là hộp gỗ hình chữ nhật, ba dây đàn là những sợi tơ: dây hàng (dây to) dây trung và dây tiếu (dây nhỏ). Cần đàn cao vút dài hơn 1 mét, mười cung đều tăm tắp. Cây đàn này phát ra âm sắc trầm đục, sâu lắng, đầy chất suy tư.

Cùng với cây đàn đáy và người chơi đàn giữ vai trò chủ đạo trong hát ca trù. Nhạc cụ trông chầu với âm sắc “tom”, “chát” do chiếc roi hay dùi trống gõ vào mặt, tang trống tạo ra nâng cho tiếng đàn lời ca, tiếng phách nhấn, láy và dừng, ngắt chính xác, không lỗi nhịp. Roi trống phải nằm ngang mặt trống. Cách ngồi, tay vịn trống, tay cầm roi trống phải đúng phong cách. Trống thường đánh ba tiếng để gọi, hoặc đánh khổ trống Thôi cổ, hai tiếng trống khoan thai để giục đào kép. Trong lúc hát, có nhiều khổ trống dùng để khen giọng hát, khen tiếng đàn mang tên “Song châu”, “Lưu châu”, “Xuyên tâm”, “Thượng mã”, “Phi nhạn”…

Phách là một nhạc cụ gõ làm bằng gỗ hoặc một mảnh tre khô, già được đẽo gọt, chuốt vuốt kỹ và một dùi tròn và một dùi chẻ làm hai gập lại. Gõ phách do ca công-người hát điều khiển. Gõ dùi chẻ xuống phách gọi là “lá phách”, gõ dùi tròn xuống phách gọi là “tay ba”, gõ phách một tay thấp, một tay cao, một tiếng nhẹ, một tiếng mạnh, một tiếng đục, một tiếng trong, hai tiếng cùng đánh một lúc gọi là “chác”. Trong hát ca trù phách là linh hồn của cả canh hát cùng hoà nhịp với lời ca, tiếng đàn, tiếng trống.

Người hát ca trù ngoài chất giọng trời phú cho, ngay từ bé và cho mãi tới sau này họ phải thường xuyên tập luyện để giữ được “hơi trong”, buông được “hơi ngoài”. Trong nghệ thuật nhấn, nhả khi lời ca cất lên, người nghe tưởng như gần, như xa, như cao, như thấp, khi khoan, khi nhặt rồi hút hồn trong lời ca, tiếng nhạc.

Thông thường có hai cách hát, hát khuôn và hát bay bướm. Hát khuôn theo lề lối “tròn vành rõ chữ”, mối chữ phải uốn nắn công phu, phải có dư âm, biết cách “đổ hột” tức là ngân ngắt đoạn nghe như tiếng hạt châu rơi trên mâm, phải gằn lấy hơi từ cổ họng chứ không phải từ lồng ngực. Đổ hột thật nhuyễn gọi là “đổ con kiến”. Hát bay bướm gọi là “hát hàng hoa”.

Thang âm ca trù rất gần với cấu trúc thang âm của hát ru trong dân gian, thang âm của ca trù là son, la, đô, rê, mi. Về điệu thức, ca trù có 6 cung: cung Huỳnh, cung Bắc, cung Nam, cung Pha, cung Nao và cung Phú. Đặc biệt nghệ thuật cấu tạo, chuyển tiếp khéo léo đến mức không làm người nghe bị xốc hay ngang tai mà một cảm giác rất lạ cứ thấm dần vào tâm trí, linh thiêng huyền bí, bay bổng lâng lâng hay man mát buồn thương.

Thời gian trôi qua, có lúc ca trù rơi vào quên lãng, những nghệ nhân ca trù âm thầm nhớ tiếc và hoài niệm… Song, cùng với sự đổi mới của đất nước, quê hương cùng với những giá trị văn hoá cổ truyền được khơi dậy, gìn giữ, phát huy. Ca trù lại trở về với cuộc sống đời thường của nó. Các canh hát ca trù lại được ngân lên trên quê hương Đinh Lễ, Bạch Hoa, từ châu Thường   núi biếc non xanh cho đến đôi bờ sông Chu, sông Mã và về với biển nơi thờ bà Chúa Trắng-sóng vỗ mênh mang, dạt dào con nước đầy vơi cùng năm tháng. Lời ca tiếng phách ấy lại còn vang lên trên đất Hà thành, góp lời ca của quê Thanh cùng với Bích Câu đạo quán – câu lạc bộ ca trù mãi bay xa.

Mùa xuân và trong các tháng giêng, hai, đến làng quê nào trên đất tỉnh Thanh cũng ít nhiều bắt gặp những lời ca bay bổng của các nghệ nhân ca trù xứ Thanh được tổ chức. Những người hát ca trù có tiếng ở tỉnh Thanh được nhiều người biết đến như cụ Diệm (Hậu Lộc), cụ Kim (Nông Cống) thật hiếm…

Ca trù với những lời ca được chắt lọc từ thơ, phú là những bài ca hay như: Gửi thư, Sa mạc, Bồng mạc,Tỳ bà hành, Thiết nhạc… lại được giọng hát như có nhiệm mầu, tiếng đàn lão luyện, tay trống hào hoa được chấp cánh bay lên thấm đẫm nghĩa nhân, đầy chất thơ, cao sang, hư thực… tất cả hoà vào nhau lôi cuốn người nghe trong âm điệu mê say như là ma lực.

Người chơi đàn cũng là người truyền dạy cho lớp trẻ trong canh hát ca trù hôm nay là Nghệ nhân ưu tú Ngô Trọng Bình đã ngoài 80 tuổi. Ngay từ nhỏ, cụ đã say đàn và những canh hát cửa đình. Cha của cụ là người chơi đàn có tiếng. Cây đàn đáy cụ đang gẩy là cây đàn thờ của dòng họ ở Nông Cống đã “tìm mặt gửi vàng” trao lại, cụ coi đó như báu vật. Ngón đàn của người nghệ sĩ già thật tài hoa, buông bắt hoà với trống phách và lời ca làm chúng ta cảm phục.

Chiếc trống chầu của các nghệ nhân dân gian được sử dụng thật tài nghệ và điêu luyện, luôn ăn nhịp với tiếng đàn, tiếng phách, giọng ca. Roi trống trong tay người nghệ sĩ luôn múa tít, lúc điểm lên mặt trống, lúc gõ xuống tang tạo nên chuỗi âm thanh lay động hồn người.

Ca trù là một nền âm nhạc bác học nhiều khách nước ngoài và các nhà nghiên cứu âm nhạc đã khẳng định và được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Ca trù là một loại âm nhạc độc đáo, chỉ cần ba diễn viên mà thể hiện được nét nhạc, điệu thức, tiết tấu của bài bản, lại có cách hát, cách đàn, cách gõ phách rất đặc biệt, khiến cho người nghe, người xem ngưỡng vọng, say mê có khi thức suốt đêm thâu, thời gian như ngừng trôi, đọng trong canh hát.

Ngày xuân nghe hát ca trù, ta như được chứng kiến điệu hồn của cha ông từ xưa vọng lại. Tiếng hát mượt mà, lảnh lót, tình tứ mà đắm say hoà với tiếng phách phát ra từ thanh tre những chuỗi âm thanh chắc gọn, cùng với tiếng đàn lay động tâm can, tiếng trống chầu giữ nhịp… tất cả bừng lên chan chứa ân tình. Bảo tồn và phát huy ca trù – nét đẹp  độc đáo của văn hoá cổ truyền xứ Thanh mãi bay bổng, tỏa lan, ngấm vào mạch đất, thấm vào lòng người  hôm qua, hôm nay và mãi muôn sau.

Nguồn: Hoàng Minh Tường Văn hóa và đời sống